Thứ Ba, 27 tháng 10, 2009



6- GÓP Ý VỚI GIÁM MỤC GP. MỸ THO, ĐC. BÙI VĂN ĐỌC, về 2 điều qua bài: “Lạy Chúa, chúng con không biết ăn nói” (!?)
Thứ Bảy, ngày 9 tháng 10 năm 2009

Nguyễn An Tôn
Từ sau ngày 30/4/1975 đến nay, bản thân chúng tôi, một giáo dân thuộc hạng nghèo mà lại “thất thế”, đã thấy có hai trường hợp, văn bản quan trọng của Kitô giáo bị cắt xén.
Trường hợp thứ nhất : Tháng 2-1971, tờ báo CHỌN số 6, (do Lm. Trương Bá Cần ( + ) chủ biên) đã dịch và đăng bức Thư của 17 Giám Mục gửi Thế giới thứ ba, trong đó câu số 3 viết : “Thuyết vô thần và chủ trương tập sản hóa mà nhiều phong trào xã hội căn cứ theo đều là những nguy hiểm lớn cho nhân loại.” Sau ngày 30/4/1975, tờ Công giáo và Dân tộc số 27-1976,đã cho đăng lại bản dịch đã in trên tờ CHỌN số 6 trên đây, nhưng đã xóa bỏ câu trên, vì sợ mất lòng “ông Chủ” đầy quyền uy, mà những người khai sinh ra nó, nghe như tận mãi bên trời Tây, tôn kính “ông Chủ” vô thần với những thời kỳ Cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ, tập sản hóa nông nghiệp, tập thể hóa tổ tiên của các dòng họ trong làng, rồi tập thể hóa cả các vị thần của các làng vào một xã. (x.Người Đàn Bà Quỳ, tuyển tập Truyện và Ký của nhiều tác giả, do báo Văn Nghệ, báo Nông Nghiệp Việt Nam và nxb Nông Nghiệp ấn hành năm 1988, Trong đó có bài Ký của Võ Văn Trực: “Tiếng kêu cứu của một làng văn hóa”, từ tr. 115-128.)
Trường hợp thứ hai : Nay, sau hơn 30 năm, Giám mục Gp. Mỹ Tho, Đc Bùi Văn Đọc còn cả gan hơn nhóm linh mục chủ trương tờ Công giáo và Dân tộc. Không biết ngài có một thế lực nào đứng ở sau lưng, mà ngày 23-6-2009, trong thánh lễ đồng tế ở Vương cung thánh đường thánh Phaolô ngoại thành Rôma, với sự tham dự đông đảo của Linh mục, Tu sĩ, Giáo dân Việt Nam đang làm việc hay học tập tại Rôma, Đc Bùi Văn Đọc đã giảng một bài mà sau đó nổi lên sự phản kháng ngài dữ dội.Cho đến nay, chỉ có một Linh mục ở Việt Nam viết bài bênh vực Đức cha, tải đăng trên trang mạng VietCatholic mới đây, đó là Lm Nguyễn Hồng Giáo, Dòng Anh Em Hèn Mọn (op). Nhưng ngay sau đó, Lm Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, ofm, đã viết một bài phân tích về thái độ không nghiêm túc khi trích dẫn Kinh thánh của Giám mục Mỹ Tho, Đc Bùi Văn Đọc, qua bài : “Cứ phải nói dù không biết nói”, tải đăng trên VietCatholic ngày Thứ Bảy 03/10/2009.
Với Lm. Nguyễn Hồng Giáo, chúng tôi chỉ xin nhắc với ngài : Cái cách ngài dấn thân vào môi trường xã hội này từ những năm qua, được biện minh như “tình yêu Đức Kitô thôi thúc”. Hoặc giả, thực thi tinh thần của Công đồng Vatican II, mở ra một cánh cửa, để tiếp nhận làn gió mát. Nhưng, với CSVN, đó chỉ là những làn gió độc. Có lẽ ngài và Giám mục Bùi Văn Đọc và những ai khác nữa cùng một dạng, một thể phách như ngài, không bén mùi trần tục với những làn khí độc mà tầng lớp giáo dân đã và còn phải chịu một cách nghiệt ngã.
Các ngài có biết “làn khí độc” của CSVN đã và đang gieo xuống đất nước này, Giáo hội này là gì không ? Các ngài có đọc những “lời cuối đời” của những cán bộ gộc của CSVN, 50, 60 tuổi đảng? Nào là Trương Như Tảng, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Hộ; Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải v.v…
Các ngài có biết, vì suốt đời theo Cộng sản, họ mất cái gì không ?
Xin thưa :

Người Tự Đánh Mất Mình
Hắn có đôi mắt riêng
nhưng lại trông nhìn bằng mắt người khác
Hắn có cái mũi riêng
nhưng lại thở bằng mũi người khác
Hắn có cái mồm riêng
nhưng chỉ biết nói theo người khác.
Hắn là người cha mẹ sinh ra
đường hoàng một đơn vị sống
không đoạn đầu đài nào gọi tên
nhưng hắn đã đánh mất đầu
và triển vọng dưới ánh mặt trời
hắn mất luôn bóng hắn.
May sao
Chúng ta không phải là một thứ kim loại
để hắn đem đổ khuôn bất cứ mẫu hình nào.
Trinh Đường (1986)
(Báo Tuổi Trẻ Chủ nhật ngày 12-4-1987)
Và dưới đây là bài thứ 2 :
Tìm Lại Chính Mình
Có một thời ta tự đánh mất mình
Trên trang giấy ta thành kẻ khác
Có một thời ta tự đánh mất mình
Nên trang giấy hóa thành tẻ nhạt
Ta lên gân tập nói giọng khác mình
Ghép câu chữ thành hình nhân tính cách
Ngòi bút hóa chú chồn nhút nhát
Sự thật pha đèn vội lủi trốn nhanh.
Mắt giả mờ cho được yên thân
Bút chẳng viết mà thường hay lách
Cuộc đời ư ? Ta rũ hết nợ nần
Để trái tim mặc tình hóa thạch
Ta tụng kinh những giáo điều cứng ngắc
Triệt tiêu bao xung đột kinh đời
Số phận ư ? Có, không, cũng mặc
Ta quay lưng với nỗi khổ con người
Ta chối bỏ làm nhà tư tưởng
Yên lòng làm những chú lính ngoan
Lâu ngày lưỡi lột mềm như cưỡng
Chỉ quen câu ca ngợi thánh thần.
Diệp Minh Tuyền
(Báo Tuổi Trẻ Chủ nhật ngày 9-8-1987)

Mới đây là nhạc sĩ Tô Hải với quyển “Hồi ký của một thằng hèn” Ông tự nhận mình là một thằng hèn, sau 50, 60 năm theo đảng.
Có lẽ Đức cha Bùi Văn Đọc và Linh mục Nguyễn Hồng Giáo không cần chúng tôi nhắc lại ở đây những tội ác mà CSVN đã gây ra cho dân tộc VN, ngay từ khi còn lén lút trong bí mật, gồm đủ mọi thành phần, mọi tầng lớp, thành thị cũng như nông thôn, trí thức cũng như thợ thuyền và nông dân, đặc biệt là với Giáo hội Công giáo Việt Nam, các thành phần giáo dân hoạt động tích cực, nhất là thành phần linh mục chống đối. Các ngài có thể quên và “người khác” giúp cho các ngài quên. Nhưng chắc chắn, những sự việc mới xảy ra cho Giáo hội, ở Tòa Khâm sứ (cũ) Hà Nội, ở Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, ở Tam Tòa, (Gp. Vinh) Loan Lý (Gp. Huế), ở Vĩnh Long, ở Nha Trang v.v…Tại những nơi này, bao nhiêu là hình ảnh, bao nhiêu là giáo dân đã bị công an, côn đồ hành hung, đánh đập như trong một xã hội không luật pháp. Vậy mà, con mắt, cái mồm, cái tai, cái đầu (thơ Trinh Đường) của các ngài để ở đâu, để “quay lưng với nỗi khổ con người” (thơ Diệp Minh Tuyền) ?
Đó có phải là dung mạo đích thực của một người được “sai đi”? Mới năm ngoái, 2008, năm thánh Phao-lô, vị tông đồ dân ngoại, và năm nay, 2009, năm thánh Linh mục, gương mẫu của Giáo sĩ là Cha sở họ Ars, Gioan Maria Vianney, các ngài không cần học tập nhân đức, bác ái, thánh thiện v.v…của Tông đồ Phao-lô và Gioan Maria Vianney sao ?! Các ngài lấy quyền “giáo huấn” mà “phán” những điều nghịch nhĩ như vậy sao. Đó là cách chống lại đa số dân nghèo Việt Nam, các cộng đồng dân tộc Việt Nam, giáo hữu Công giáo, Phật giáo, Hòa Hảo, Tin lành, Cao Đài, các tổ chức chính trị chân chính và yêu nước. Họ, tất cả đều là nạn nhân của Cộng sản, đồng thời họ cũng đã từng đóng góp xương máu của các chiến sĩ trong tổ chức của họ, qua các cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Nhật và Việt Minh CS.
Vì vậy, chúng tôi thấy rất khó hiểu về thái độ “không biết nói” của các ngài, mà khi nói thì lại nói những điều chói tai, mặc nhiên đứng về phía kẻ thù số một của dân tộc, những kẻ đào mồ đào mả ông cha, tổ tiên, những kẻ hủy diệt văn hóa dân tộc.
Thỏa hiệp với Cộng sản là chống lại những thành phần ưu tú của giống nòi Bách Việt.Vấn nạn thứ hai của chúng tôi là, Đảng CSVN lúc này đang là thời kỳ rã gánh, những ngày cuối cùng của nó. Vậy mà sao các ngài lại ra sức, gồng mình , phơi bày ra cái ý đồ chính trị theo thói đời, nhẩy vào dòng sông đang cuồn cuộn những rác rưởi tanh hôi và xác chết của người, của thú để bơi ngược dòng ? Làm sao lại tự mình làm khổ mình, đầy đọa mình cách nhục nhã đến lợm giọng !
Với Đức cha Bùi Văn Đọc,chúng tôi xin góp ý với ngài hai điều qua bài giảng lễ hôm 23-6-2009 tại Vương cung thánh đường thánh Phao-lô ở ngoại thành Rôma, với nội dung : Lạy Chúa, chúng con không biết ăn nói.
Điều 1 : “Trước sự phức tạp của tình hình thế giới, trước những thế lực giằng co chống đối nhau luôn muốn lôi kéo chúng tôi về phía họ… Để không làm công cụ cho một thế lực chính trị nào, chúng tôi phải giữ gìn lời ăn tiếng nói…”
Người ta tưởng Đức cha Bùi Văn Đọc “không biết ăn nói”, ai ngờ câu trên đây tuyệt lắm, nó na ná như lời của một chính ủy nào đó lên lớp cho môn sinh. Hóa cho nên, tất cả vốn liếng về thần học, triết học, tín lý, luận lý, kinh thánh v.v…không giúp gì cho ngài trong vai trò “ngôn sứ”, chứng nhân của Thầy Giêsu ở giữa bầy “sói”!
Chúng tôi đột nhiên lại nhớ đến chuyện “cờ đỏ” hay “cờ vàng” của “chủ chăn” giáo phận trước đây. Ngài cũng quá “vụng về”, nên “không biết ăn nói” với những cộng đồng người Việt ở nước ngoài cũng như ở trong nước. Cho nên người ta bảo ngài nói theo chính ủy Việt Cộng, nhằm gây chia rẽ giữa những thành phần người Việt ngoài Công giáo với người Công giáo. Điều này chỉ có lợi cho Cộng sản VN nhưng nó cũng mãi mãi là một đòn giáng xuống Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đối với những phe sẵn có thành kiến với Việt Nam Công Giáo bắt nguồn từ thời cấm đạo.
Bây giờ, Đức cha Đọc lại trêu tức người ta nữa, qua câu nói trên. Xin ngài chỉ ra, những thế lực nào muốn lôi kéo “chúng tôi” (phải chăng là tất cả Giám mục Việt Nam ?) về phía họ ? Ngài “không làm công cụ cho một thế lực chính trị nào” (ám chỉ các phe chống đối Đảng CSVN), nhưng như thế là ngài đã mặc nhiên đứng về phe CSVN rồi đấy. Với CSVN thì ngài bảo “không biết nói”, còn với các phe “nghịch với CSVN” thì ngài nói như thể chính ngài là một “giáo chủ” hay ít ra là một “dự phóng” như vậy, để “người ta” tìm đến cậy nhờ. Như vậy, với Đức cha Đọc, những người vốn mang thành kiến không ưa Công giáo, lại có thêm một sự việc nữa, đẩy họ xa giáo hội thêm !
Điều 2. “Nếu có ai không thích Cộng sản, người ấy không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ.”
Thưa Đức cha, chỗ này ngài lại sai nữa rồi, vì giữa chỗ “khích bác” và phê phán nghiêm túc, hoàn toàn khác nhau. “Khích bác” là một trò của tiểu nhân, vì ghen ghét, vì đố kị, vì oán hận mà người ta khích bác nhau, nói xấu nhau. Còn phê phán là một việc của trí tuệ, sử dụng đúng cách, nó là một việc bác ái, là nhân bản, đó là hành vi của chính nhân, của quân tử. Giáo hội Công giáo chẳng phải là vẫn có những phê phán ngay trong lòng Giáo hội đấy sao, có người nói đó là tình trạng phản chứng.
Lâu nay, giáo dân chúng tôi, trong cũng như ngoài nước, thấy quá bất mãn vì sự “im tiếng” của các vị Giám mục nói chung, trước những vấn đề “nóng” của dân tộc và đất nước Việt Nam, không riêng cho Giáo hội. mà những vấn đề về quyền sống, nhân phẩm như buôn bán phụ nữ, qua hôn nhân với người nước ngoài, lợi ích của người lao động trong các xí nghiệp, nhà máy, các khu chế xuất của người nước ngoài , các hiện tượng rất xấu của xã hội đối với mọi tầng lớp dân chúng, đặc biệt với thanh thiếu niên nam nữ và tuổi đang lớn lên. Con người Việt Nam đang phải hít thở những luồng gió độc từ khắp thế giới thổi vào.
Trong khi, nhìn vào tầng lớp lãnh đạo tinh thần trong Giáo hội, một hình ảnh trái ngược với những mảnh đời dưới đáy xã hội, sống bên lề đường, dưới các hầm cầu, trong xó chợ và trên các khu rác tanh hôi ở ngoại thành hay với những người gọi là “dân oan” từ mọi nơi trong nước, họ bị cướp mất nguồn sống, bị ngược đãi, bị trói tay chân như con heo, bất kể tuổi tác, rồi liệng lên xe bít bùng mang về địa phương ! Họ thật cô đơn, không một người “Samaria nhân hậu” nào đến yên ủi họ !
Xin các vị hãy can đảm nhìn thẳng vào các sự việc xảy ra tại Tòa khâm sứ, giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, giáo xứ Tam Tòa, Loan Lý v.v…Các vị thấy gì nơi giáo dân ở những nơi này ? Đặc biệt, qua hai sự việc. Một là trong lễ nhậm chức Giám mục của Cha Nguyễn Văn Khảm tại ĐCV Sài-Gòn (năm 2008) và hai là trong lễ nhậm chức Giám mục Giáo phận Phát Diệm của Cha Nguyễn Năng (8-9-2009). Hai dịp này, hình ảnh một Tổng giám mục đấu tranh vì công lý và sự thật, sát cánh với giáo dân, thở cái nhịp thở của giáo dân, đã cho thấy nỗi lòng của giáo dân Việt Nam hôm nay. Họ yêu mến vị Mục tử của mình như thế nào, mặc dù họ không nói gì được vì tiếng nói của họ chẳng có ai nghe, nên họ khao khát chờ mong tiếng nói của các Mục tử. Thế nhưng, họ đã không được nghe mà trái lại còn bị đẩy vào cái thế phải phẫn nộ, nén chặt và sâu trong lòng, để rồi biết đâu một ngày nào đó, một căn bệnh ung thư phát ra. Đó là hậu quả của trầm cảm. Bi thảm thay !

Nguyễn An Tôn
(6-10-2009)


*******************
7- “Cây kim trong bọc lâu ngày phải lòi ra: Anh hùng LÊ VĂN TÁM chỉ là chuyện phong thần của Trần Huy Liệu !”
GS. Phan Huy Lê lần đầu tiên công bố trên truyền thông nhà nước: “Anh hùng Lê Văn Tám” chỉ là chuyện phịa láo của Trần Huy Liệu !
Anhduong.info, 17/10/2009

Giáo Sư Phan Huy Lê tại nhà riêng ở Hà Nội, năm 2005. (Hình: Khôi Nguyên/Người Việt)

HÀ NỘI (NV)- Giáo Sư Phan Huy Lê, chủ tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, vừa lên tiếng chính thức trên truyền thông nhà nước và khẳng định rằng nhân vật “anh hùng Lê Văn Tám” là hoàn toàn không có thật.

Giáo Sư Phan Huy Lê công bố việc này trong một bài viết được đăng trên tạp chí Xưa và Nay của của Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, số ra Tháng Mười, năm 2009.Bài viết sau đó được báo Khoa Học và Ðời Sống (http://www.bee.net.vn/) đưa lên mạng vào ngày 14 Tháng Mười, năm 2009, với tựa đề “GS Phan Huy Lê: Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám.”

Ðây được coi là lần đầu tiên Giáo Sư Phan Huy Lê lên tiếng về sự kiện này trên một cơ quan truyền thông chính thức của nhà nước Việt Nam.

Cách đây hơn 4 năm, trên báo Người Việt số ra ngày 19 Tháng Ba, 2005, lần đầu tiên Giáo Sư Phan Huy Lê đã bạch hóa việc nhân vật “anh hùng Lê Văn Tám” là không có thật. Trả lời phỏng vấn, Giáo Sư Phan Huy Lê nói rằng, “trong một dịp thuận tiện” ông sẽ công bố sự kiện này trên truyền thông tại Việt Nam.

Sau khi đọc được bài viết trên trang mạng http://www.bee.net.vn/, nhật báo Người Việt đã gọi điện về Hà Nội hỏi chuyện Giáo Sư Phan Huy Lê, tuy nhiên ông đang đi công tác tại Hải Phòng nên không liên lạc được.

Trong bài viết trên tạp chí Xưa và Nay, Giáo Sư Phan Huy Lê nhấn mạnh khi giải thích về nhân vật Lê Văn Tám, rằng: “Theo quan điểm của tôi, mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan, chân thực.”

Tưởng cũng xin nhắc lại về nhân vật anh hùng Lê Văn Tám: Bất cứ ai đã từng là học trò tại miền Bắc Việt Nam những năm trước 1975 và cả Việt Nam sau 1975 đều biết về câu chuyện Lê Văn Tám, một thiếu niên hơn 10 tuổi, bán đậu phộng rang vì lòng yêu nước căm thù giặc Pháp đã tẩm xăng vào người làm “ngọn đuốc sống” đốt kho đạn giặc tại Thị Nghè thành phố Sài Gòn vào ngày 1 Tháng Giêng, năm 1946.”

Câu chuyện về người thiếu niên dũng cảm này đã đưa vào sách giáo khoa dành cho lớp 4 hoặc lớp 5. Nó được truyền tụng tới mức rất nhiều tỉnh và thành phố của Việt Nam lấy tên Lê Văn Tám đặt cho các trường học, tượng đài, công viên, đường phố. Tại các trường học, tên Lê Văn Tám cũng được đặt cho các chi đội, liên đội thuộc tổ chức “Ðội Thiếu Niên Tiền Phong.”

Những giải thích về lý do vì sao lại có nhân vật “anh hùng Lê Văn Tám” của Giáo Sư Phan Huy Lê trên tạp chí Xưa và Nay không khác lắm với lời giải thích của ông với báo Người Việt cách đây hơn 4 năm.

Giáo Sư Phan Huy Lê kể lại câu chuyện ông có dịp làm việc với Giáo Sư Sử Học Trần Huy Liệu vào những năm 1960, lúc ấy ông Trần Huy Liệu là phó chủ nhiệm Ủy Ban Khoa Học Xã Hội, kiêm viện trưởng Viện Sử Học. Ông Trần Huy Liệu mất năm 1969.

Giáo Sư Phan Huy Lê tóm lược một cách đầy đủ lời kể và lời dặn của Giáo Sư Trần Huy Liệu, như sau: “Nhân vụ kho xăng của địch ở Thị Nghè bị đốt cháy vào khoảng Tháng Mười, 1945 và được loan tin rộng rãi trên báo chí trong nước và đài phát thanh của Pháp, đài BBC của Anh; nhưng không biết ai là người tổ chức và trực tiếp đốt kho xăng nên tôi (GS Trần Huy Liệu) đã “dựng” lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét.”

“GS Trần Huy Liệu còn cho biết là sau khi ta phát tin này thì đài BBC đưa tin ngay, và hôm sau bình luận: Một cậu bé tẩm xăng vào người rồi tự đốt cháy thì sẽ gục ngay tại chỗ, hay nhiều lắm là chỉ lảo đảo được mấy bước, không thể chạy được mấy chục mét đến kho xăng. GS đã tự trách là vì thiếu cân nhắc về khoa học nên có chỗ chưa hợp lý. Ðây là ý kiến của GS Trần Huy Liệu mà sau này tôi có trao đổi với vài bác sĩ để xác nhận thêm.”

Giáo Sư Phan Huy Lê nhấn mạnh là “GS Trần Huy Liệu không hề “hư cấu” sự kiện kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy mà trên cơ sở sự kiện có thật đó, chỉ “dựng lên”, theo cách nói của GS, chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch.”

Theo lời Giáo Sư Lê thì, “Giáo Sư Trần Huy Liệu giải thích là thời Nam Bộ kháng chiến, có bao nhiêu tấm gương hy sinh vì tổ quốc, nhưng “dựng” chuyện thiếu niên Lê Văn Tám là nghĩ đến biểu tượng cậu bé anh hùng làng Gióng (Phù Ðổng Thiên Vương), còn việc đặt tên Lê Văn Tám là vì họ Lê Văn rất phổ biến ở nước ta và Tám là nghĩ đến Cách Mạng Tháng Tám. Lúc bấy giờ, GS Trần Huy Liệu đang giữ chức bộ trưởng Bộ Thông Tin Tuyên Truyền trong chính phủ lâm thời, nên GS nói rõ là muốn tạo dựng nên một biểu tượng anh hùng để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta.”

Giáo Sư Phan Huy Lê cũng nói lại điều căn dặn của Giáo Sư Trần Huy Liệu là: “Sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa.”

“Trong câu chuyện, GS còn tiên lượng là biết đâu sau này có người đi tìm tung tích nhân vật Lê Văn Tám hay có người lại tự nhận là hậu duệ của gia đình, họ hàng người anh hùng. Ðây chính là điều lắng đọng sâu nhất trong tâm trí mà tôi coi là trách nhiệm đối với GS Trần Huy Liệu đã quá cố và đối với lịch sử.” Giáo Sư Phan Huy Lê viết.

Giáo Sư Lê khẳng định: “Tôi kể lại câu chuyện này một cách trung thực với tất cả trách nhiệm và danh dự của một công dân, một nhà sử học.”

Ðiều này trùng hợp với lời khẳng định của ông trên báo Người Việt 4 năm về trước, rằng: “Là những nhà sử học, chúng tôi phải giữ một thái độ trung thực và phải tiếp cận với sự việc càng rõ ràng càng tốt và vì thế tôi đã công bố ‘lời nhắn nhủ’ của anh Trần Huy Liệu.”

Hồi năm 2005, trong cuộc họp với hãng phim truyền hình Việt Nam (thuộc đài truyền hình VN) Giáo Sư Phan Huy Lê, từng nói về chi tiết phi lý về “Lê Văn Tám” rằng: “Cậu bé Lê Văn Tám sau khi tẩm xăng vào người và tự châm lửa đốt, vẫn còn khả năng chạy từ ngoài vào kho xăng với quãng đường 50 mét. Tôi đã hỏi một số bác sĩ, và họ cho rằng với sức nóng của lửa xăng, một em bé không thể chạy xa như vậy”.

Tuy nhiên, không phải không có ý kiến phản bác lại những gì Giáo Sư Phan Huy Lê công bố.
Sau bài trên báo Người Việt (Tháng Ba, năm 2005), thì ba năm sau, tờ Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày Thứ năm, 16 Tháng Mười, 2008, có bài viết tựa đề “Về cây đuốc sống Lê Văn Tám” của ông Trần Trọng Tân, nguyên là trưởng ban Tư Tưởng Văn Hóa Thành Ủy, thành phố Sài Gòn. Trong bài này, ông Trần Trọng Tân nói rằng: “Có người đã gửi cho tôi một tài liệu được lấy trên mạng thông tin điện tử, trong đó Giáo Sư Phan Huy Lê đã tiết lộ: “Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám hoàn toàn không có thật”.”

Sau khi dẫn ra nhiều tư liệu, ông Trần Trọng Tân khẳng định rằng “Cây đuốc sống Lê Văn Tám” là có thực. Ông Tân viết: “Ðánh kho đạn Thị Nghè có 2 lần vào ngày 17 Tháng Mười, 1945 và ngày 8 Tháng Tư, 1946 ; trận ngày 17 Tháng Mười, 1945 với “Cây đuốc sống Lê Văn Tám” là có thực; Lê Văn Tám đã đốt kho đạn, không phải kho xăng; Lê Văn Tám không phải “tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng” mà “đã lừa bọn lính gác, lọt vào ẩn nấp bên trong với chai xăng và bao diêm chờ lúc sơ hở, em tưới xăng vào khu vực chứa đạn và châm lửa. Lê Văn Tám bị dính xăng bắt lửa thành ‘cây đuốc sống’; người tổ chức, bày kế hoạch cho Lê Văn Tám làm là anh Lê Văn Châu, đã hy sinh trong trận đánh giặc Pháp ở Ngã ba Cây Thị năm 1946.”

Tuy vậy, ý kiến của ông Trần Trọng Tân không được dư luận đồng tình, bởi ông không phải là một nhà sử học chuyên nghiệp. (K.N)
Bài báo Người Việt 2005
Giáo sư Phan Huy Lê: Nhân vật lịch sử “anh hùng Lê Văn Tám” hoàn toàn không có thật

Khôi Nguyên/NV
HÀ NỘI - Tại một cuộc họp của hãng phim truyền hình Việt Nam vào cuối tháng 2 năm 2005 tại Hà Nội, giáo sư Phan Huy Lê đã tiết lộ: “Nhân vật lịch sử ‘anh hùng Lê Văn Tám’ hoàn toàn không có thật !” Ông cũng khẳng định lại điều này trong cuộc phỏng vấn dành cho báo Người Việt.
Cuộc họp tại Hà Nội, trong đó có mặt một số phóng viên báo chí, nhằm thông báo rằng trong năm 2005, hãng phim truyền hình Việt Nam (thuộc đài truyền hình VN) sẽ thực hiện chương trình sản xuất 100 tập phim hoạt hình nội dung lịch sử dân tộc Việt Nam. Giáo sư Phan Huy Lê, hiện là Chủ tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, là một trong hai nhà sử học được mời dự cùng với nhà sử học Dương Trung Quốc.
Trong phần phát biểu về tính chân thực của các nhân vật lịch sử, đột nhiên giáo sư Phan Huy Lê “nhớ lại”: “Tôi còn một món nợ với anh Trần Huy Liệu mà đến nay chưa trả được. Ðó là lúc anh Liệu làm bộ trưởng bộ tuyên truyền (sau cách mạng tháng Tám 1945, Trần Huy Liệu làm bộ trưởng bộ tuyên truyền và cổ động), anh Trần Huy Liệu tự viết về nhân vật Lê Văn Tám, một thiếu nhi tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè”.
Giáo sư Phan Huy Lê nói thêm về lời nhắn gửi của ông Trần Huy Liệu: “Lúc sáng tác ra câu chuyện Lê văn Tám, anh Liệu có nói với tôi rằng: “Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền nên tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa.”
Trần Huy Liệu được xem là một trong những nhà sử học hàng đầu và nhiều quyền lực tại miền Bắc VN những năm sau 1945, ngang hàng với Tố Hữu. Ông Liệu giữ chức Viện Trưởng Viện Sử Học Việt Nam và mất năm 1969.Tại cuộc họp, giáo sư Phan Huy Lê cũng đề cập đến chi tiết phi lý trong câu chuyện ngọn đuốc sống Lê Văn Tám: “Cậu bé Lê Văn Tám sau khi tẩm xăng vào người và tự châm lửa đốt, vẫn còn khả năng chạy từ ngoài vào kho xăng với quãng đường 50 mét. Tôi đã hỏi một số bác sĩ, và họ cho rằng với sức nóng của lửa xăng, một em bé không thể chạy xa như vậy”.
Ðiều đáng ngạc nhiên là sau khi giáo sư Phan Huy Lê tiết lộ sự thật về Lê Văn Tám, không một tờ báo hay một cơ quan truyền thông nào của VN đăng tin này.
Câu chuyện về việc lật lại sự vô lý của nhân vật anh hùng Lê Văn Tám vài năm qua cũng đã được giới sử học mang ra bàn luận trong đó có bài viết của ông Dương Quang Ðông trên tạp chí Xưa & Nay (thuộc Hội khoa học lịch sử VN) số 154 (202)-XII- hồi năm 2003, và mới nhất là của tác giả Quang Hùng nhan đề “Nghĩ về hình tượng Lê Văn Tám” trên báo Thế Giới (Hà Nội) số 39 (154) ra ngày 27/9/2004, nhưng đây là lần đầu tiên câu chuyện “không có thật” này được chính thức công nhận từ một người có trách nhiệm cao nhất của giới sử học tại Việt Nam hiện nay, giáo sư Phan Huy Lê.
Tưởng xin nhắc lại về nhân vật anh hùng Lê Văn Tám: Bất cứ ai đã từng là học trò tại miền Bắc VN những năm trước 1975 và cả Việt Nam sau 1975 đều biết về câu chuyện Lê Văn Tám, một thiếu niên hơn 10 tuổi, bán đậu phộng rang vì lòng yêu nước căm thù giặc Pháp đã tẩm xăng vào người làm “ngọn đuốc sống” đốt kho đạn giặc tại Thị Nghè thành phố Sài Gòn vào ngày 1 tháng 1 năm 1946.” Câu chuyện về người thiếu niên dũng cảm này đã đưa vào sách giáo khoa dành cho lớp 4 hoặc lớp 5. Câu chuyện này được truyền tụng tới mức rất nhiều tỉnh và thành phố của VN lấy tên Lê Văn Tám đặt cho các trường học, tượng đài, công viên, đường phố. Tại các trường học, tên Lê Văn Tám cũng được đặt cho các Chi Ðội, Liên Ðội thuộc tổ chức “Ðội Thiếu Niên Tiền Phong.”
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn qua điện thoại với báo Nhật báo Người Việt hôm Thứ Sáu (18 tháng 3 năm 2005), Giáo sư Phan Huy Lê đã xác nhận việc ông công bố sự thật về nhân vật Lê Văn Tám tại cuộc họp hồi cuối tháng 2 vừa qua.
Giáo sư Phan Huy Lê cho biết: “Là những nhà sử học, chúng tôi phải giữ một thái độ trung thực và phải tiếp cận với sự việc càng rõ ràng càng tốt và vì thế tôi đã công bố “lời nhắn nhủ” của anh Trần Huy Liệu.”
Người Việt: Thưa giáo sư, ông Trần Huy Liệu nói điều ấy với giáo sư vào thời gian nào?

GS Phan Huy Lê: Lúc ấy ông Trần Huy Liệu đang là Viện trưởng Viện sử học VN. Ông nói câu chuyện này với tôi rất nhiều lần vào những năm của thập kỷ 1960, vài năm trước khi ông Liệu mất. Không chỉ nói với mình tôi, ông Liệu còn nói cả với những người đồng nghiệp của tôi là hai nhà sử học Nguyễn Ðình Thanh và Nguyễn Công Bình, hiện nay cả 2 người này vẫn còn sống. Theo lời ông Trần Huy Liệu, việc tuyên truyền hình ảnh nhân vật Lê Văn Tám như một anh hùng có thật là nhằm động viên tinh thần chiến đấu của quân dân trong những năm đánh Mỹ.
Người Việt: Ðây có phải là lần đầu tiên giới sử học VN tuyên bố nhân vật lịch sử Lê Văn Tám là không có thật?GS Phan Huy Lê: Câu chuyện về Lê Văn Tám đã được giới sử học mang ra bàn luận trong nhiều năm qua, nhưng vẫn chưa có công bố nào cụ thể và chính thức trên các phương tiện truyền thông nhà nước. Tôi cũng đã được nghe về một cuộc bàn luận về nhân vật Lê Văn Tám trên đài BBC. Riêng về bản thân tôi, là một nhà sử học, tôi đã và đang viết bài để công bố sự thật về nhân vật này một cách chi tiết và thấu đáo nhất dưới góc nhìn của lịch sử và tôi dự định trong thời gian sớm nhất.

Người Việt: Thưa giáo sư, tại sao lại không công bố sớm hơn sự kiện này ?
GS Phan Huy Lê: Bởi vì, trong năm nay, nhà nước đang chuẩn bị rất nhiều ngày lễ lớn, trong đó có ngày 30 tháng 4. Tôi muốn công bố bài viết của mình trong một điều kiện bình thản hơn và không muốn việc của mình bị cuốn vào các sự kiện lớn khác. Tôi đang chờ đợi một dịp thuận lợi và nhất định là tôi sẽ làm.
Người Việt: Xin cảm ơn giáo sư.




******************
8- CHẮC MÁ TAO MỪNG LẮM...
HỒN CA TRÊN BIỂN ĐÔNG !
Võ Đại Tôn (Indonesia-Singapore)


"CHẮC MÁ TAO MỪNG LẮM !?..."

Chiều trên đảo Galang.

Nắng chưa tắt và hơi gió biển từ xa thổi vào lành lạnh, dường như có mùi muối mặn. Chúng tôi trong phái đoàn Văn Khố Thuyền Nhân, mỗi người mang một tâm trạng riêng nhưng cùng chung một tâm nguyện, âm thầm thắp nhang cắm trên các mộ bia hoang tàn. Nhiều mộ bia đã bị đập phá, gạch đá nằm lăn lóc, cỏ cháy vàng khô. Nhiều tấm bia đã phai mờ chữ khắc, nhiều tấm bia không có năm sinh, chỉ ghi ngày chết. Tất cả, tất cả đều im lặng, hoang vu, ngậm ngùi. Trên bục đá cao còn sót lại một cột cổng bằng xi-măng vào nghĩa trang, màu sơn trắng đã thành rong rêu loang lổ, ai đã sơn thêm ba sọc màu đen từ trên xuống dưới, thành lá cờ tang của Tổ Quốc, bơ vơ nơi xứ người. Trông thật ảm đạm, đìu hiu, tôi nghĩ đến những dòng nước mắt màu đen của Dân Tộc hôm qua và hôm nay. Tôi cúi đầu khấn nguyện, cắm nhang trên những nấm mộ vô danh, và tôi đang khóc trong lòng.

Vì tuổi già leo dốc cao, và vì quá xúc động trước cảnh tượng điêu tàn hoang sơ này, tôi chợt cảm thấy mình ngộp thở, vội trao lại bó nhang đang bùng khói cho người bạn đồng hành trong đoàn, từ Mỹ qua. "Anh cắm nhang tiếp giùm tôi đi, tôi chóng mặt quá!". Tôi đến ngồi bên cạnh một mộ bia đã bị đập vụn, nghĩ về thảm trạng của cả một trời quê hương, bên kia bờ biển Đông, và nghĩ đến những người đã chết bên này đại dương.

Dưới chân nghĩa trang, dọc theo con đường mòn, có một khu rừng. Một tấm bảng chỉ đường ghi bằng tiếng Anh: "Body Tree". Trong lùm cây, có một cây đa già buông nhánh và rễ xuống tận đất. Có người nói đấy là cây bồ đề, và bảng chỉ đường "Body Tree" có nghĩa là khu cây bồ đề. Nhưng sự thật không phải như vậy. Dưới gốc cây có dựng ba kệ bàn thờ nhỏ có mái che như cái "trang" bằng gỗ sơn màu đỏ. Thuyền nhân trên đảo trước đây và dân làng địa phương gọi là "Miếu Ba Cô". Vài anh em trong phái đoàn, đã từng sống trên đảo này, kể lại cho tôi nghe là có ba cô gái trên đường vượt biển đã bị hải tặc hãm hiếp, khi đến được trại tỵ nạn trên đảo đã quá tủi nhục và uất hận, ra treo cổ tự tử trên cành cây đa vào ban đêm. Trong ba người, có hai chị em ruột tuổi còn nhỏ. Đồng bào tỵ nạn trên đảo đã lập miếu thờ và dân làng địa phương cho đến nay vẫn còn gìn giữ nơi này, tin tưởng là chốn linh thiêng. Tôi nghĩ đến tấm bảng chỉ đường "Body Tree", có lẽ là nơi "Cây treo xác người" chứ không có nghĩa là cây bồ đề.




Tôi lặng người, đứng nhìn khu miếu hoang vu này, ngậm ngùi nghĩ đến thân phận của những người con gái Việt Nam, vào lứa tuổi con-em của tôi, đã theo gia đình vượt biển tìm Tự Do, để rồi phải chết trong cảnh oan khiên. Hương lạnh hoang tàn, cô đơn nghiệt ngã. Không biết thân nhân của những người con gái đau thương này, đã được định cư tại một nơi nào đó trên thế giới tự do, có bao giờ trở lại để thắp một nén nhang cầu nguyện ? Anh em trong Văn Khố Thuyền Nhân có ghi lại chi tiết về những cái chết tận cùng khổ nhục này của các cô gái Việt Nam, nhưng tôi chỉ viết lại cảm xúc của riêng tôi vể cảnh tượng.

Tôi lại nhìn ra biển khơi và thấy hiện ra căn nhà nghỉ mát đồ sộ nguy nga của con gái tên thủ tướng việt cộng Nguyễn Tấn Dũng trên bờ biển Nha Trang mà tôi đã thấy hình đăng trên báo chí hải ngoại mới đây. Căn nhà nghỉ mát của "con gái siêu đại gia tư bản đỏ" này, ở Nha Trang, và cái 'Miếu ba Cô" hoang vu trên đảo Galang chiều nay, là nghịch cảnh có thực trong cõi đời này. Nghịch cảnh giữa những người con gái Việt Nam, đang sống và đã chết bên bờ biển Đông, trong hàng triệu nghịch cảnh giữa lòng Dân Tộc. Những người nào còn chút lương tâm, luôn cả nhân loại nếu còn lương tri, sẽ tự tìm ra câu trả lời vì sao? Trong thời đại này, theo thời gian và theo vị kỷ của con người, có lẽ hai chữ "lương tâm" đang nằm im trên trang giấy trong tự điển.

Ngồi trên xe rời xa đảo trên đường về lại thị trấn quận hạt Batam, tôi nghĩ thêm được những câu kết trong bài trường thi "Hồn Ca Trên Biển Đông" mà tôi đang "viết" trong đầu về linh hồn những người đã chết với những nấm mô điêu tàn:

Hồn mãi còn đây, dù bia mộ hoang vu
Không tên tuổi – sá gì tên với tuổi!
Dù xác thân đã hòa chung cát bụi
Biển Đông còn - Hồn mãi sống thiên thu!

Năm 2005, Hà Nội đã làm áp lực với các chính phủ Mã Lai và Nam Dương để đập phá các tấm bia tưởng niệm Thuyền Nhân đã chết trên biển Đông, và bây giờ, năm 2009, khi chúng tôi đến đây, Hà Nội vẫn tiếp tục yêu cầu chính quyền Nam Dương đóng cửa các khu di tích, xóa bỏ tất cả dấu vết Thuyền Nhân trên các đảo! Bạo lực và hận thù của một chế độ từ bên kia bờ đại dương đang vói tay qua sóng nước trùng khơi để hủy bỏ chứng tích tội ác của họ, trên những ngọn đồi xứ lạ, nghĩ rằng rồi đây nhân loại sẽ không còn thấy những di tích tang thương này của Dân Tộc Việt Nam.

Rồi đây, những bia mộ hoang tàn còn sót lại này, rồi đây "Miếu Ba Cô" tịch liêu này, có còn không ? Tôi nhìn lên trời cao, gió chiều thổi đám mây trắng bay về cõi mênh mông vô định. Lòng tôi đang quấn khăn tang như màu mây trắng. Tôi nghĩ đến thân phận Dân Tộc của tôi, vong linh những thuyền nhân đã chết, và hình ảnh các cô gái Việt Nam treo cổ trên cành cây đa nơi xứ người ! Một trang sử màu đen loang lổ những vệt máu khô.

Chiều nơi khu Geylang.

Sau những ngày làm việc tại Indonesia, chúng tôi đi phà từ đảo Pinang về lại Singapore để chờ máy bay "hồi hương"! Không phải bị "cưỡng bức hồi hương" như một số thuyền nhân trên các đảo trước đây. Vì anh em chúng tôi trong phái đoàn phải tự túc mọi chi phí, và đây không phải là chuyến đi du lịch vui chơi, cho nên chúng tôi phải tìm nhà trọ tại một khu xa thành phố để tiết kiệm tối đa.

Khu Geylang hổn tạp, xô bồ, đa số là dân lao động tứ xứ với đủ sắc dân, Tàu, Ấn Độ, Mã Lai, Nam Dương, luôn cả du khách ba-lô từ các nước phương Tây dồn về. Ban ngày dường như ai cũng ngái ngủ, quán xá phần đông đóng cửa, nhưng từ 3-4 giờ chiều cho đến sáng hôm sau thì tấp nập dòng người chen chân qua các khu phố. Bàn ghế ăn uống nhậu nhẹt đặt sát lề đường, không còn một chỗ ngồi. Các quán ăn rộn rịp, om sòm đủ mọi thứ tiếng. Xe cộ dập dìu, mạnh ai nấy băng qua đường, xe phải tránh người.

Từ nhà trọ, tôi lang thang bách bộ đi qua các con hẻm để quan sát cảnh sống ban đêm nơi xứ người. Tại nhiều góc hẻm, dân chúng tụ tập quanh các bàn cờ bạc đủ loại, tài xiu, sóc dĩa, quay số... không thấy bóng một cảnh sát viên nào. Ở đâu tôi cũng thấy các cô gái phấn son, ăn mặc hở hang khiêu gợi nhưng có vẻ nghèo nàn. Toàn là gái trẻ, có nhiều cô chỉ vào lứa tuổi 14-15. Có cô đứng ngay bên lề đường để đón khách, có cô thì ngại ngùng nép mình bên vách tường phố, đưa tay nhẹ vẫy, với nụ cười chập chờn qua ánh đèn màu lòe loẹt. Mỗi lần tôi đi ngang các cô gái này, cô nào cũng bập bẹ nói tiếng Anh "You go – Me good!".

Linh cảm cho tôi biết đa số là những cô gái Việt Nam. Lòng tôi se thắt lại. Đây là khu ăn chơi bình dân, giang hồ tứ chiếng, và tôi chợt nhìn thấy nhiều thanh niên bụi đời đang đứng trong bóng tối rình rập, canh chừng các cô gái. Ma-cô đầu gấu. Thỉnh thoảng các cô lại đến thì thầm gì đó, móc túi đưa tiền cho các gã, hoặc đi theo khách vào các nhà trọ trong khu vực.

Tại nơi chúng tôi tạm trú, tôi thấy có tấm bảng ghi $10 đô la Singapore 1 giờ thuê phòng. Các cô gái trẻ đi với khách đủ loại và mất hút vào cầu thang, có cô thản nhiên, có cô rụt rè. Đi qua chỗ mấy sạp bán trái cây, đặc biệt là sầu riêng thơm lừng, trước cửa một khu "disco" đèn chớp sáng, tôi thấy các cô gái ăn mặc rất khêu gợi và tôi cũng được mời "You go – Me good". Tôi lắc đầu bước đi và thoáng nghe sau lưng mấy cô nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt.

Bước vào một tiệm đổi và chuyển tiền để đổi một ít tiền Singapore (thường được gọi là đô la Sin) để đi ăn tối, tôi thấy hai cô gái đang đứng trước quày. Tôi sắp hàng đứng sau lưng. Hai cô cũng mặc quần ngắn, áo mỏng manh, tuổi nhỏ khoảng 16-17, son môi đỏ chói. Chợt tôi nghe một trong hai cô, sau khi chuyển xong tiền, buộc miệng nói tiếng Việt: "Kỳ này tao gửi về được 50 đô. Chắc má tao mừng lắm!". Cô kia thở dài : "Tao chưa gom đủ tiền, cuối tháng mới gửi được về nhà". Rồi cả hai bước ra cửa. Tôi vội đổi một ít tiền, chạy theo hai cô gái, vào một quán ăn bên đường. Tôi đến đứng bên cạnh bàn hai cô đang ngồi, định bắt chuyện thì một trong hai cô đã hỏi ngay : "You go – Me good"! – Tôi ngồi xuống bàn và nói nhỏ: "Tôi là người Việt mà. Mời hai cô ăn uống gì với tôi cho vui". Cả hai cô đều nhìn tôi ngạc nhiên rồi hỏi nhỏ, bằng tiếng Việt: "Bác ở đây hay là người nước ngoài tới chơi? Bác "đi" không? "Đi" một đứa hay cả hai cũng được, "xâu" luôn nha!". Tôi mĩm cười: "Hai cô ăn uống gì không, tôi mời đó. Tôi ở xa mới tới đây, ngày mai đi rồi".

Tôi gọi ba tô mì và nước dừa tươi. Sau một vài phút thì thầm gợi chuyện, có lẽ thấy tôi là một "ông già" không có tình ý gì xấu, hai cô bắt đầu cởi mở hơn, gọi tôi bằng ông và tự xưng là cháu, và vừa nói chuyện vừa nhìn quanh. Thông thường, các cô gái làm nghề này lâu năm thì trường đời đã dạy thêm chua ngoa, lừa lọc, phịa chuyện đau thương để làm động lòng khách, nhưng riêng với hai cô gái này, tôi nhận thấy vẫn còn chất đồng quê chân thật. Hơn nữa, tôi chỉ gợi chuyện hỏi về những điều không đi sâu vào đời sống riêng tư và đường dây chuyển người.

Tôi được biết: - Hai cô gái này đều 18 tuổi, quê ở Vỉnh Long, sang đây được gần một tháng nay. Cuối tháng sẽ đi phà qua quận Batam ở Nam Dương rồi về lại Singapore, ở thêm mỗi lần như vậy được một tháng như là khách du lịch, nhưng chỉ tối đa được ba lần mà thôi. Tôi được biết thêm là tại khu vực này đa số đều là gái từ miền Nam qua, gọi là đi du lịch hoặc xin học nghề, có người bảo lãnh lo mọi thủ tục. Có luôn cả người đi theo canh chừng. Các cô lén chỉ cho tôi mấy gã thanh niên đang ngồi ăn ở góc quán. Không được ngồi chơi với khách, phải dẫn khách đi ngay vào nhà trọ thuê phòng, hoặc qua giờ hoặc qua đêm. Nếu ngồi nói chuyện lâu thì phải trả tiền như là "bao trọn", với sự đồng ý của mấy gã "đầu gấu", cũng toàn là người Việt, hoặc là phải "báo cáo" với má-mì.

Phần đông các cô đều là gái miền quê, muốn đi tìm chồng ở Singapore hoặc được cam kết cho đi học nghề, nhưng thực ra là qua đây bị ép buộc phải "đi khách". Trước khi đi phải đóng tiền thế chân khoảng 2.000 mỹ kim cho môi giới, và mỗi tháng phải đóng tại đây 700 tiền đô la Sin. Còn lại bao nhiêu thì được tiêu xài hoặc gửi về gia đình. Trung bình mỗi cô "làm" được khoảng 1000 đô Sin mỗi tháng nếu đắt khách, nhưng những cô lớn tuổi, từ 25 trở lên đều bị chê là già, không ai gọi đi. Càng trẻ càng có giá, tôi được biết thêm là có nhiều cô chỉ mới 15 tuổi cũng đi "học nghề" và được khách ở Singapore ưa chuộng "tuổi trẻ" lắm. Ở Singapore có một khu riêng chỉ toàn gái dưới 15 tuổi, cũng từ Việt Nam qua.

Tôi im lặng ngồi nghe, rợn người, thỉnh thoảng gợi thêm chuyện để tìm hiểu. Các cô được đưa qua đây, 10 cô ở chung một phòng, ăn uống tự túc, ban ngày ngủ, ban đêm ra phố "làm việc", có đầu gấu đi theo để thu tiền và bảo vệ. Gia đình ở quê nhà chỉ biết lo chạy tiền, vay nợ, để gửi con gái mình đi học nghề ở nước ngoài. Đang ngồi nói chuyện, có má-mì cũng người Việt đến bàn hỏi hai cô là tôi có "đi" không? Tôi vội trả lời thay, là tôi chỉ ngồi ăn uống cho vui thôi. Má-mì giục hai cô ra xe taxi chờ sẵn vì có khách bao đi đêm, tôi phải trả 10 đô Sin cho buổi nói chuyện ngắn ngủi này, coi như là tiền "tiếp khách chay". Hai cô chào tôi rồi chạy ra xe, taxi lách qua dòng người mất hút vào đám đông.

Tôi thẩn thờ quay về nhà trọ, đi giữa đám đông xa lạ, chợt thấy mình lạc lõng bơ vơ. Tôi nghe nói là Singapore gần đây đã nới lỏng việc phục vụ khách du lịch về mọi phương diện, kể cả mại dâm trá hình, để tăng trưởng kinh tế và nhất là để đáp ứng nhu cầu cho dân số nam nhiều hơn nữ. Riêng về ma túy thì kiểm soát rất gắt gao, vẫn còn thực thi án tử hình. Ở Singapore hiện nay, tìm được một người vợ vừa ý và làm đám cưới là một điều ảo tưởng, đa số đàn ông không thể thực hiện được. Các cô gái Việt Nam đã đáp ứng nhu cầu đó, qua nhiều đường dây môi giới. Lịch sử Dân Tộc chúng ta trước đây chưa bao giờ xảy ra hiện tượng buôn người ra nước ngoài như hiện nay.

Tôi bước đi giữa dòng người nơi xứ lạ, tại một khu vực nghèo nàn, hổn tạp, mà lòng tôi xốn xang. Thương nước, thương cho các thế hệ tuổi trẻ cùng chung dòng máu phải tìm mọi cách qua xứ người để bán thân nuôi mình và gia đình, và luôn cả thương mình đang lưu vong. Hình ảnh căn nhà nghỉ mát nguy nga của cô con gái thủ tướng Việt cộng tai bờ biển Nha Trang, hình ảnh "Miếu Ba Cô" trên đảo Galang, hình ảnh chiếc xe taxi chở hai cô gái Vỉnh Long bằng tuổi con-cháu tôi chạy vù trong bóng đêm tại khu Geylang, đi về đâu và sẽ bị dày vò trong vòng tay ai... đang âm thầm bước theo tôi, sẽ đồng hành cho đến cuối hành trình còn lại trong đời. Và câu nói của cô gái bán thân gửi về cho mẹ 50 đô la Sin "Chắc má tao mừng lắm !" mãi còn văng vẳng bên tai tôi.

Dân Tộc tôi dưới chế độ cộng sản thực sự là một khổ nạn đến tận cùng !

Mong rằng hai chữ "lương tâm" của con người sẽ không còn nằm im trên trang giấy trong tự điển.

Võ Đại Tôn
Chiều Geyland, Singapore.
16-10-2009


HỒN CA TRÊN BIỂN ĐÔNG

(Lưu niệm chuyến đi viếng thăm mộ bia Thuyền Nhân tại các đảo Galang và Pinang, Nam Dương, cùng phái đoàn Văn Khố Thuyền Nhân và các Bạn từ các quốc gia trên thế giới. CSVN đang yêu cầu chính quyền Nam Dương đóng cửa các khu di tich Thuyền Nhân trên các đảo. Ngày nào còn CSVN, ngay cả những người đã chết trên các đảo hoang vu, lìa xa Tổ Quốc, cũng không được yên nghỉ ngàn thu...)

Viết tại đảo Pinang ngày 14.10.09.
Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

1.
Hồn ai đó ?
Chập chờn trên khói sóng
Dòng máu tươi theo nước chẳng hòa tan.

Hồn ai đó ?
Vạn tinh cầu chao bóng
Đảo ghềnh xa còn vọng tiếng kêu than.
Hãy về đây – trên sóng nước dâng tràn
Chung tiếng khóc nghẹn đau cùng Dân Tộc.


Hồn ai đó ?
Đã lìa xa Tổ Quốc
Vẫn còn ôm sông núi xuống mồ hoang.
Tiếng oan khiên từ đáy vực còn vang
Hay chìm đắm giữa khơi ngàn sóng dữ ?
Mảnh thuyền tan, bập bềnh trôi viễn xứ
Biết về đâu ? Hồn phiêu bạt nơi đâu ?
Thân cá Hồi tan tác đã chìm sâu
Không tìm thấy lối quay về chốn cũ !
Giữa trùng khơi vang tiếng cười dã thú
Hải tặc giằng co thân xác – kinh hoàng.
Tiếng Mẹ kêu, dòng máu chảy đầy khoang
Tay vời níu đàn con run khiếp sợ.
Biển lạnh chiều hoang, trần gian nín thở,
Vòng tai ương kiếp nạn đến vô cùng.

Hồn ai đó ?
Bờ Tự Do bốn hướng, cõi mông lung
Tìm đâu thấy - giữa muôn trùng đen thẳm ?
Tiếng kêu “Trời!” trước phút giây chìm đắm
Biến tan vào giông bão, thét trùng dương.
Vực mồ sâu thịt rã máu còn vương
San hô trắng hay là xương ai trắng ?
Dòng tóc đen bám ghềnh xa hoang vắng
Thành rong rêu sẫm tím một màu tang.

Hồn ai đó ?
Chiếc thuyền Không Gian
Trôi về Vô Tận.
Bánh xe Thời Gian chuyển ngàn uất hận
Chập chờn mấy cõi U Minh.
Lịch Sử nghìn thu trang giấy rợn mình
Ghi chép lại phút kinh hoàng Vượt Biển !


2.
Hồn ai đó ?
Đảo hoang sơ, ai về đây khấn nguyện
Mộ bia tàn, ai thắp nén hương dâng ?
Nơi Ba-Đình vui chuốc rượu Vô Thần
Cười nghiêng ngả mừng reo hò chiến thắng !
Đồng ruộng phơi bày xương trắng
Oan khiên máu lệ thành sông.
Bao thây vùi trong sóng nước biển Đông
Còn sót lại mấy hoang tàn di tích ?

Hồn ai đó ?
Đảo xa xôi mộ phần cô tịch
Giấc ngủ chẳng bình an.
Chúng (*) còn theo, cố phá đập tan (* - CSVN)
Để tô hồng chế độ :
· “Chủ nghĩa huy hoàng, không ai chối bỏ
Không có người vượt thoát để tồn sinh !!!”
Nhưng bia đời như nắng rọi bình minh
Luôn soi rõ từng vết sâu tội ác
Của loài dã tâm với ngôn từ khoác lác
Đang tôn thờ chủ thuyết lai căng.


Hồn ai đó ?
Từ bao cõi vĩnh hằng
Xin về đây chứng kiến.
Tấm lòng chúng tôi, trọn đời Tâm Nguyện
Chí bền gan, xin vẹn Nghĩa Tình.
Dù ngăn cách Tử Sinh
Giữa hai bờ Nhật Nguyệt.
Dù có ai phá tan mộ huyệt
Đến nghìn sau hồn mãi còn đây.
Nhìn trùng khơi sóng nước dâng đầy
Gửi mơ về cố quốc.
Hồn vẫn sống trong lòng Dân Tộc
Vì hai chữ Tự Do.
Chiều GALANG bão tố sóng to
Hay tĩnh lặng trăng rơi thềm đá.
Sáng PINANG nắng xuyên rừng lá
Hay đêm vờn tiếng hát nhân ngư.
Hồn mãi còn đây, dù bia mộ hoang vu
Không tên tuổi – sá gì tên với tuổi !
Dù xác thân đã hòa chung cát bụi
Biển Đông còn - HỒN MÃI SỐNG THIÊN THU !

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
Galang – Pinang (Indonesia)
10.10.09 – 17.10.09


*********

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2009



NGUYỄN THÙY DUNG
BẢN TIN CẬP NHẬT 2
Tháng 10, 2009

***************


ĐỌC & SUY GẪM ! PHẢI LÀM GÌ ĐỂ THAY ĐỔI SỐ PHẬN MÌNH VÀ DÂN TỘC HIỆN TẠI, TƯƠNG LAI ???

ĐỪNG NGHE NHỮNG GÌ CỘNG SẢN NÓI,
HÃY NHÌN KỸ NHỮNG GÌ CỘNG SẢN LÀM !

CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN PHẢI BỊ LOẠI BỎ, KHÔNG THỂ ĐỐI THOẠI !

XÓA BỎ ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ CỘNG SẢN HÔM NAY
GIÚP THĂNG TIẾN VIỆT NAM TỰ DO NGÀY MAI


TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT VÙNG LÊN XÓA BỎ ĐỘC TÀI CỘNG SẢN

TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN CỘNG SẢN: “Chế độ cộng sản vẫn tiếp tục gieo rắc tội ác trên đất nước VN. Đẩy lùi tội ác cộng sản ra khỏi quê hương là bổn phận của tất cả chúng ta, Những ai còn mơ hồ về cộng sản, rồi có ngày sẽ vỡ mộng, trả giá cho sự ngây thơ và sẽ không còn cơ hội hối hận.”


DÂN TỘC VÙNG LÊN CHỐNG BẠO QUYỀN VIỆT GIAN CỘNG SẢN !



******************************




AI

- CÒN MƠ HỒ VỀ CỘNG SẢN ???
- CÒN NỊNH BỢ, BƯNG BÔ BÈ LŨ PHỈ QUYỀN VIỆT GIAN CỘNG SẢN ???
- CÒN MUỐN “ĐỐI THOẠI, HÒA HỢP HÒA GIẢI” VỚI VIỆT CỘNG ???
- CÒN ĐEM TIỀN BẠC & CHẤT XÁM ĐẦU TƯ “XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG” ???

HÃY

- MỞ MẮT CHO LỚN ĐỂ NHÌN, HÃY MỞ TRÍ CHO RỘNG ĐỂ THẤY BẢN CHẤT TÀN BẠO LƯU MANH MUÔN ĐỜI CỦA BÈ LŨ VIỆT GIAN CỘNG SẢN:

- “LÀNG MAI NHẤT HẠNH HÒA HỢP HÒA GIẢI”, 400 TU SINH TĂNG THÂN LÀNG MAI BÁT NHÃ BỊ KHỦNG BỐ, ĐÀN ÁP, TRỤC XUẤT !!!

- CÁC LINH MỤC THÁI HÀ “ĐỐI THOẠI” VỚI PHỈ QUYỀN QUẬN ĐỐNG ĐA ĐỂ NGHE QUYẾT ĐỊNH CƯỚP ĐẤT,

- TRỊNH VĨNH BÌNH, NGUYỄN ĐÌNH HOAN, HOÀNG NGỌC TIẾN, NGUYỄN GIA THIỀU, TRẦN VĂN TRƯỜNG “AO CÁ TÂN TRƯỜNG KHANH” ĐEM TIỀN CỦA, CHẤT XÁM VỀ “XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG” BỊ CƯỚP MẤT TRẮNG TAY !!!

- “BỌN XƯỚNG CA VÔ LOÀI” BỊ CƯỚP NHÀ, ÔM ĐẦU MÁU VỀ NƠI TỊ NẠN !!!

- PHẠM DUY, NGUYỄN CAO KỲ BỊ VIỆT GIAN CỘNG SẢN COI LÀ NHỮNG CON CHÓ GHẺ Ô NHỤC, CHANH VẮT HẾT NƯỚC, VỎ HẾT XÀI !!!

ĐỪNG NGHE CỘNG SẢN NÓI, HÃY NHÌN CỘNG SẢN LÀM !!!




*****************************


KÍNH NHỜ QÚY CỤ, QÚY BÁC, ÔNG BÀ, CÔ CHÚ, ANH CHỊ
PHỔ BIẾN RỘNG RÃI BTCN NẦY ĐẾN TẤT CẢ MỌI NGƯỜI DÂN
NGUYỄN THÙY DUNG XIN CÁM ƠN TOÀN THỂ QÚY VỊ

EM THÀNH THỰC XIN LỖI KHÔNG THỂ TIẾP CHUYỆN ANH/CHỊ
MUỐN LIÊN LẠC QUA "CHAT" TỪNG NGƯỜI MỘT
VÌ EM QUÁ BẬN:
gởi hàng chục ngàn emails mỗi ngày.
ANH/CHỊ THÔNG CẢM CHO EM NHÉ!
XIN ANH/CHỊ VUI LÒNG LIÊN LẠC VỚI EM QUA "EMAIL",
CÁM ƠN ANH/CHỊ NHIỀU LẮM.


*************************

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2009

THƯ BBT

Thư BBT http://www.vietnamngaymai.blogspot.com


Kính anh chị:

Qua những BTCN gởi đến anh chị từ mấy tháng nay, em chỉ có một mong ước và “thông điệp” duy nhất: ĐỪNG NGHE LỜI LỪA BỊP (VÀ TRÁO TRỞ) CỦA CỘNG SẢN, XIN HÃY NHÌN KỸ VÀO HÀNH ĐỘNG VÀ HẬU QUA ĐAU THƯƠNG CỘNG SẢN GÂY RA CHO CẢ DÂN TỘC. Đó là lời kêu gọi thống thiết của cố tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Nguyễn Chí Thiện, ngục sĩ và thi sĩ nổi tiếng khắp thế giới, không chỉ trong cộng đồng người Việt trong và ngoài nước mà cả đối với cộng đồng quốc tế, đã “tiêu pha” tuổi thanh xuân, 27 năm trời, trong ngục tù cộng sản, chưa bao giờ làm việc cho, chưa bao giờ là đảng viên cộng sản, và kể từ khi được cựu đại tá không lực Mỹ Norobu Masuoka bảo lãnh qua Hoa Kỳ cuối năm 1995, mười mấy năm nay ông đã bôn ba đi khắp năm châu bốn biển, kêu gào mọi người hãy hiểu thật rõ về bản chất cộng sản, để tội ác cộng sản không còn tiếp diễn. Mọi hiểu biết mơ hồ về chủ nghĩa và chế độ tàn ác nhất lịch sử nhân loại sẽ giúp chúng dây dưa sống hoài (và dĩ nhiên còn làm khổ nhân loại dài dài trong đó có dân tộc chúng ta.)

“Nếu nhân loại mọi người đều biết
Cộng sản là gì, tự nó sẽ tan đi
Thứ sinh thành từ ấu trĩ ngu si
Sự hiểu biết sẽ làm mồ hủy diệt !”
Nguyễn Chí Thiện

Ông Boris Yeltsin, cố tổng thống cộng hòa Nga, cựu Ủy viên Trung Ương cộng đảng Nga, cựu đại biểu viện Duma (quốc hội) Nga cũng đã đưa ra lời tuyên bố dứt khoát và quyết liệt: “Chế độ cộng sản chỉ có thể LOẠI BỎ, KHÔNG THỂ đối thoại !”.

Ngoài ra, trong số các giả cuốn “Le livre noir du Communisme” và trong số 99 dân biểu quốc hội Âu châu bỏ phiếu tán thành QUYẾT NGHỊ 1481 ngày 25/01/2006 lên án “TỘI ÁC CỘNG SẢN CHỐNG NHÂN LOẠI”, nhiều vị cũng đã từng giữ những chức vụ cao cấp trong các đảng cộng sản và chính quyền cộng sản tại Âu châu và Nga sô.

Hẳn nhiên, hơn ai hết, họ là những người có kinh nghiệm, có kiến thức sâu sắc về chủ nghĩa và bản chất chế độ cộng sản. Lời nói và quyết định của họ có đầy đủ thẩm quyền “lên án tội ác cộng sản chống nhân loại” của chế độ và chủ nghĩa nầy. Giá trị lời tố cáo và lên án rất “nặng ký”, nghĩa là khó ai có thể phản bác được vì những sự thật kinh hoàng với đầy đủ bằng cớ thuyết phục được trình bầy công khai và được hỗ trợ bởi kinh nghiệm chết chóc đau thương của hằng trăm triệu, hàng tỉ con người trên thế giới trong suốt thế kỷ 20, và hiện nay vẫn còn khoảng một tỉ rưỡi con người đang hứng chịu tội ác cộng sản trong đầu thế kỷ 21. Cái chết của hơn 100 triệu nạn nhân gây ra bởi chủ nghĩa cộng sản vẫn còn đó. Cái đau thương của một phần tư nhân loại vẫn còn đó, vẫn hiện hữu hàng ngày ở Tây Tạng, Việt Nam, Trung Hoa, Bắc Hàn, Cu Ba và Lào.

Mọi người trong chúng ta, từ tầng lớp bình dân cho đến những người trí thức, từ trong nước ra đến hải ngoại, không ai là không có ít nhiều kinh nghiệm đau thương về cộng sản, trong quá khứ và trong hiện tại, ngoại trừ một thiểu số rất nhỏ, chưa có kinh nghiệm, vẫn còn mơ hồ, vẫn còn bị mê hoặc, đang làm tay sai, hoặc thờ ơ, mau quên, hay ích kỷ, vẫn muốn nhắm mắt trước thực tại cộng sản, vẫn cố ý hay vô tình, thơ ngây, tiếp tay cho bè lũ bạo quyền Việt gian cộng sản tiếp tục đè đầu cởi cổ thống trị dân tộc. Và thiểu số đó trước hay sau, mau hay chậm cũng sẽ gặt hái kết cuộc từ hành động “tay sai, tiếp tay với bạo quyền. Tấm gương mới nhất là vụ đàn áp tàn bạo 400 tu sinh tu viện Làng Mai Bát Nhã của “Thiền sư” Thích Nhất Hạnh.

Chúng ta hãy nói với nhau, giúp cho nhau, và nói với mọi người để không ai còn nhầm lẫn về cộng sản. Mọi người đều thông suốt bản chất cộng sản đồng nghĩa với đê tiện, tráo trở, lật lọng và TỘI ÁC (máu xương và nước mắt,) và còn xấu xa ghê tởm hơn thế nữa. Một người khi bị (hay được) gán là “đồ cộng sản” thì phải hiểu là người đối thoại không còn từ ngữ nào mạt sát nặng nề hơn.

Sự hiểu biết và thấm nhuần kinh nghiệm của chúng ta về cộng sản khiến chúng không thể nào “lấy thúng úp miệng voi, lấy tay che mặt trời” mãi được. Chưa kể những kế hoạch trước đó, kết quả thực thi NQ 36 tính từ ngày ký (26-03-2004) đến nay là cả một chuổi dài từ thất bại đến thất bại: năm nào ĐCSVG cũng tổ chức “Hội nghị tổng kết thành quả thực thi NQ 36”, khi âm thầm, khi công khai tuyên truyền ầm ỉ, thì kết quả cũng chỉ là những lời than dài ! Như hội nghị mới đây, tổng kết 5 năm, cho thấy chỉ có 140 “Việt kiều” về mua nhà trong số hơn 3 triệu người Việt hải ngoại, một con số đủ nói lên một kết cuộc nghèo nàn thê thảm. Và kết quả những mặt khác cũng thê thảm tương tự. Vì sao ? Hỏi là trả lời: Sự tráo trở, lừa lọc lọc, khủng bố, đàn áp của bè lũ Việt gian cộng sản vẫn diễn ra hàng ngày tại Việt Nam thì che mắt được ai, đánh lừa được ai ???

Những tin tức liên quan đến các sự kiện (vẫn xẩy ra hàng ngày) tại Việt Nam tràn ngập trên hệ thống thông tin toàn cầu về “Đình công vì bị bốc lột, khiếu kiện của tầng lớp dân oan bị cướp sạch đất nhà, bắt bớ, hãm hại, bỏ tù, quản chế, cách ly, vu khống người bất đồng chính kiến, các nhà dân chủ, lừa lọc những người đem “tiền bạc và chất xám về phục vụ quê hương”, đàn áp và cướp đoạt tài sản của các tôn giáo (Thái Hà, Khâm sứ, Tam Tòa, Loan lý, Bát Nhã, Thủ Thiêm,…) phong trào đối kháng ngày càng lan rộng trên cả nước của mọi từng lớp nhân dân Việt Nam, từ trí thức cho đến những người bình thường, …” thì “phương án” nào, “nghị quyết” nào có thể lấp liếm, có thể che tai bịt mắt, có thể đem lại “thành quả rực rỡ” như bè lũ VGCS mong muốn ? “Phương án, nghị quyết” đề ra chỉ để lừa bịp nhau thì kết quả “dã tràng xe cát biển đông” là điều tất yếu.

Nếu ai đó cố tình tự “che tai mắt, bịt miệng” mình để nghe lời cộng sản vào giờ thứ 25 thì cứ … tự nhiên. Còn cả thế giới nầy đang chứng kiến những ngày tàn của những chế độ cộng sản cuối cùng trên quả đất, đang ngày càng lao nhanh trên triến trình tự hoại. Và quả đất vẫn thản nhiên quay quanh mặt trời như tự bao giờ.

Người ta tự hỏi khi nào thì chủ nghĩa và những chế độ cộng sản sẽ hoàn toàn biến mất trên hành tinh nầy ? Câu trả lời vừa chủ quan vừa khách quan, vừa mang yếu tố nội tại vừa cấu thành bởi yếu tố ngoại lai. Chỉ khi nào mỗi người trong chúng ta, rút tỉa ra những bài học cần thiết từ kinh nghiệm, hiểu cộng sản là gì, giúp một bàn tay đắc lực đẩy chiếc xe cộng sản, trên đường tự hoại, lao nhanh xuống đáy địa ngục thì đó chính là lúc cộng sản biến mất, vĩnh viễn, trên thế gian. Điều có có nghĩa là, cộng sản bị tận diệt mau hay chậm một phần cũng là tùy chúng ta, và cũng tùy thời cơ đã đủ chín muồi chưa.

Nhân đây, một lần nữa, em xin trân trọng cám ơn qúy anh chị về hàng trăm “email” phản hồi với lời khen ngợi nồng nhiệt (mà thật tình em không dám nhận vì tự xem công việc mà em đang thực hiện hàng ngày chỉ là đóng góp một bổn phận nhỏ bé đối với quê hương dân tộc,) những lời khích lệ đáng qúy khiến em thêm hăng hái; và, cũng xin trân trọng cáo lỗi qúy anh chị là em đã không thể nào có thể trả lời hay “chat” cùng lúc với từng anh chị (mỗi lần quay lại “email” em luôn thấy có hàng chục anh chị đang lên “chat”). Xin anh chị thông cảm và cũng xin anh chị giúp em chuyển BTCN đến nhiều anh chị khác, nhất là đồng bào quốc nội, phá tan đám mây mù trí tuệ, phá tan bức tường u minh, phá tan thông tin một chiều mà cộng sản đang bao trùm lên cả nước.
Khai dân trí để nâng dân khí” là điều cần thiết, vô cùng khẩn thiết hiện nay. Thêm một lần nữa, TD cám ơn anh chị thật nhiều.

Chúng ta sẽ hẹn gặp nhau vào một ngày bình minh của dân tộc sạch bóng cộng sản.

Thân mến chào anh chị.
NGUYỄN THÙY DUNG
http://www.vietnamngaymai.blogspot.com
*****************

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2009



PHẨN THÔNG TIN

**************

Chủ đề Bản Tin Cập Nhật 2 (10/09) hôm nay:

MỘT CÁI TÁT VÀO BỘ MẶT NHAM NHỞ
CỦA BÈ LŨ PHỈ QUYỀN HÀ NỘI:
6 NHÀ TRANH ĐẤU NHÂN QUYỀN VIỆT NAM
NHẬN LÃNH GIẢI NHÂN QUYỀN HELLMAN/HAMMETT

SAU BÀI HỌC “LÀNG MAI BÁT NHÔ, AI CÒN MUỐN HÒA HỢP HÒA GIẢI VỚI LŨ GIÒI BỌ SÚC SINH BA ĐÌNH ?
“TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI !!!”


1- VIỆT NAM: KIÊN ĐỊNH VÀ NGUY CƠ MẤT NƯỚC
Phạm Trần

2- KHÁNG THƯ 28 KHỐI 8406: PHẢN ĐỐI BẠO QUYỀN VIỆT CỘNG SẢN XỬ TÙ CÁC NHÀ DÂN CHỦ VÀ TIẾP TỤC ĐÀN ÁP TÔN GIÁO
Khối 8406

3- HỒ SƠ VỤ NHÀ NƯỚC CSVN ĐÀN ÁP TU VIỆN BÁT NHÃ
Hoàng Anh Vũ tổng kết

4- 6 NHÀ VĂN TRANH ĐẤU DÂN CHỦ NHẬN ĐƯỢC GIẢI THƯỞNG NHÂN QUYỀN HELLMAN/HAMMETT
Bản tin Liên hội Nhân quyền Thụy sĩ

5- NHÀ BÁO BÙI TÍN TỰ THÚ NHÂN NGÀY 30-04-2009
Bùi Tín


6- ĐÃ MẤT TIỀN CÒN BỊ CHÊ LÀ NGU !
Áo Trắng



*****************************

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2009

1- VIỆT NAM: KIÊN ĐỊNH VÀ NGUY CƠ MẤT NƯỚC
Phạm Trần

Hòa Thượng Thích Quảng Độ: “Bảy mươi năm tàn phá khốc liệt con người và xã hội của chủ nghĩa Cộng sản tại Liên xô và Đông Âu cũ bi thảm như thế nào, thì sự trạng này cũng kinh khiếp như thế ấy tại Việt Nam.”

Hoa Thịnh Đốn.- Tổ chức Phật giáo đối lập với Nhà nước Cộng sản Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất do Hòa thượng Thích Quảng Độ lãnh đạo, đã lên tiếng cảnh giác về nguy cơ dân tộc bị suy vong trước hiểm họa xâm lăng của ngoại bang.
Lời báo động này được đưa ra tại Đại hội Khoáng đại kỳ 4 Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ, tổ chức tại chùa Diệu Pháp, thành phố San Gabriel, California trong 3 ngày 9,10 và 11 Tháng 10/2009, cùng thời gian với Hội nghị lần 11 của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam Khoá X diễn ra tại Hà Nội để bổ sung và phát triển “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” năm 1991.

Tuy nhiên, sau 6 ngày họp từ 05 đến 10/10 (2009), 180 Ủy viên Trung ương vẫn dậm chân tại chỗ, vẫn còn những ý kiến khác nhau như họ đã thể hiện tại kỳ họp 10 từ 29-6 đến 4/7.

Thông báo của Hội nghị 11 viết: “Trên cơ sở những quan điểm, tư tưởng, định hướng cơ bản của Cương lĩnh năm 1991 và kế thừa những nội dung vẫn còn nguyên giá trị trong Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển) đã bổ sung, phát triển nhiều nội dung mới hoặc điều chỉnh, viết lại một số điểm không còn phù hợp; diễn đạt khái quát, chắt lọc chặt chẽ, có hệ thống hợp lý hơn, khắc phục trùng lặp, có độ dài tương đương Cương lĩnh năm 1991.
Qua thảo luận, Ban Chấp hành Trung ương cơ bản đồng ý với dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển); đồng thời, cho ý kiến cần làm rõ thêm một số nội dung và cách thể hiện về quá trình cách mạng và những bài học kinh nghiệm, bối cảnh tình hình quốc tế, các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta, về chế độ sở hữu, các thành phần kinh tế, phát huy dân chủ và phương hướng, nhiệm vụ cơ bản trên một số lĩnh vực...

Trên một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau hoặc cần được làm rõ, Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị nghiên cứu, cân nhắc, trình Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 12."

Trong Cương lĩnh 1991, viết vào giai đọan các nước Cộng sản đông Âu và Liên bang Xô Viết nối đuôi nhau sụp đổ, đã khẳng định 3 điều then chốt:

Thứ nhất, “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.”

Thứ hai, trong lĩnh vực Kinh tế, Cương lĩnh viết loanh quanh: “Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.”
Thứ ba, về mặt tư tưởng và văn hóa, Cương lĩnh quy định : “Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần xã hội.”

Trong cả 3 điều cốt lõi này, dù những người sọan thảo có cố tình lý luận ra sao chăng nữa thì chung cuộc cũng chỉ nói được một điều, đó là tìm mọi cách để duy trì chế độ Cộng sản độc tài ở Việt Nam bằng mọi giá.

Nhưng cũng vì đảng Cộng sản Việt Nam không muốn cho dân được hưởng những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và các quyền tự do với thế giới văn minh ở Thế kỷ 21 nên sau 18 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 23 năm tiến hành công cuộc đổi mới và 10 năm thực hiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010, Việt Nam vẫn còn là một trong số các nước nghèo nàn và chậm tiến nhất địa cầu !

Ngay so với các dân tộc láng giềng Đông Nam Á, người dân Việt Nam vẫn chưa được hưởng các quyền tự do như nhân dân Cao Miên, điển hình như tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do lập hội, đảng phái chính trị và tự do bầu cử, ứng cử.

Vì vậy mà ngay trong nội bộ đảng, đã có những hòai nghi nổi lên về lý do duy trì chủ nghĩa Cộng sản lỗi thời cũng như vai trò lãnh đạo độc tôn quá lâu của đảng dựa vào quy định phản tiến bộ và phản dân chủ của Cương lĩnh 1991. Sự ràng buộc phản khoa học của Cương lĩnh 1991 còn là nguồn gốc phát sinh ra những xung đột đang lan rộng trong đảng và nhân dân đối với các chủ trương và chính sách kinh tế tự do nửa vời do nhà nước định hướng và kiểm sóat.

Bên cạnh đó, những bất đồng ý kiến ngày một lên cao đang lan nhanh trong xã hội đối với quyết định độc tài của đảng để cho Tầu vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên đe dọa an ninh và kinh tế của Việt Nam. Người dân, nhất là giới Thanh niên còn nổi giận trước thái độ qụy lụy đến nhu nhược của Chính phủ trước hành động ngang ngược, liên tục vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Hải quân Trung Hoa. Chúng đã thường xuyên đe dọa, tấn công, đánh đâp, bắt chuộc tiền và cướp bóc tài sản của Ngư dân Việt Nam đánh cá quanh khu vực Hòang Sa và Trường Sa.

Ngoài ra người dân còn mất tin tưởng vào đảng trong quyết tâm phòng, chống Tham nhũng, Cải tổ hành chính, Xây dựng và chỉnh đốn đảng để làm sạch guồng máy Nhà nước. Quyền làm chủ đất nước của dân ghi trong Hiến pháp cũng đã bị cán bộ, đảng viên lộng hành, chà đạp nên thay vì làm “đầy tớ” nhân dân, họ đã ngồi trên đầu dân để làm ông chủ bất khả xâm phạm !
Vì vậy mà trong Bài diễn văn bế mạc Hội nghị 11, Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư đảng mới lưu ý 180 Ủy viên Trung ương: “Công tác xây dựng Đảng là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng và có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ ta. Nội dung quan trọng này cần phải được thể hiện rõ trong Báo cáo chính trị. Hội nghị cũng đã thảo luận, cho ý kiến về một số vấn đề cần nghiên cứu bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng nhằm đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ xây dựng Đảng, đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn mới.”

Nhưng những điều Mạnh nói không có gì mới vì đảng đã thực hành Kế họach xây dựng cán bộ đến năm 2020 từ mấy năm rồi mà kết qủa vẫn như nước đổ lá khoai.

Tình trạng rệu rã của cán bộ, đảng viên không còn che đậy được nữa mà đảng thì vẫn muốn Điều lệ Đảng phải : “Tiếp tục khẳng định những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, thể hiện rõ bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa Đảng với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh”.

HIỂM HỌA TẦU XÂM LĂNG

Hình “Tộc trưởng bộ lạc Rợ Hán đỏ” Hồ Cẩm Đào

Nhưng trước hiểm họa xâm lăng lãnh thổ của Trung Hoa ngày một đến gần thì xâm lăng kinh tế đã gây khốn khó cho nền kinh tế của Việt Nam từ mấy năm qua. Đảng và Nhà nước CSVN đã hòan tòan bất lực trước sự xâm nhập như nước vỡ bờ của hàng hóa Tầu nhập lậu, bán rẻ mà phẩm chất lại cao hơn khiến cho hàng hoá của Việt Nam ế ẩm, thua lỗ, không còn cạnh tranh được.

Đó cũng là lý do tại sao Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã kêu gọi đồng bào trong nước hãy can đảm tẩy chay hàng Trung Hoa để bảo vệ chủ quyền kinh tế, trong khi Bộ Chính trị đảng CSVN chỉ dám kêu gọi người dân dùng hàng Việt Nam để tránh động đến lỗ chân lông của Lãnh đạo Bắc Kinh.

Vì vậy, mọi người đã không ngạc nhiên khi nghe Hòa thượng Quảng Độ cảnh báo qua Đạo từ của Ngài gửi tới Đại hội Khoáng đại kỳ 4 Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ: “Độc tài chính trị chỉ phù du một thời, nhưng đạo Giải thoát Giác ngộ là của muôn đời. Trước cảnh tha hóa suy tàn của đạo đức dân tộc ngày nay, Giáo hội cần chuẩn bị nhân sự từ giới xuất trần đến giới tại gia để đảm lãnh đời sống tinh thần cũng như xã hội của dân tộc. Bảy mươi năm tàn phá khốc liệt con người và xã hội của chủ nghĩa Cộng sản tại Liên xô và Đông Âu cũ bi thảm như thế nào, thì sự trạng này cũng kinh khiếp như thế ấy tại Việt Nam. Phật giáo cần chuẩn bị đối diện với một đất nước điêu linh, một xã hội loạn lạc, một dân tộc vong tính trong những năm tháng tới.”

Trong khi đó thì Đức Phó Tăng thống Thích Hộ Giác lại mạnh mẽ báo động trước 300 Phái đòan đại biểu: “Đất nước đang đứng trước họa xâm lăng mà nghĩ là an bình thịnh trị; Phật giáo đang bị khai thác làm công cụ cho chế độ đương quyền mà nghĩ là nhà nước ủng hộ Phật giáo; nội bộ giáo hội bị phân hóa để biến tướng mà nghĩ là đang bình chân như vại. Những cái nhìn như vậy cũng tai hại như chính những nguyên nhân tạo nên pháp nạn và quốc nạn hiện nay”.

Thượng tọa Tổng thư ký Thích Viên Lý, Trưởng Ban Tổ chức Đại hội cũng thẳng thắn nói trước Đại hội : “Việt Nam của chúng ta đang là một tử địa. Dân tộc Việt Nam vẫn sống trong lầm than, độc tài, bất công và bạo lực. Bất công, bạo lực và độc tài là một tội ác. Là một Phật tử, với tâm từ bi, tất nhiên chúng ta không chỉ lên án bạo lực, bất công mà còn nỗ lực hành động để chận đứng mọi bất công và bạo lực.”

Cùng trong một thời gian mà khi đảng Cộng sản Việt Nam bình chân như vại trước kế họach xâm chiếm lãnh thổ của người Tầu Bắc Kinh để chú tâm vào củng cố quyền lực và duy trì chủ nghĩa Cộng sản tại Hội nghị 11 thì các Nhà sư lại báo động công khai về hiểm họa diệt vong của giống nòi.

Có khác chăng là khi những kẻ cầm quyền CSVN chỉ biết củng cố địa vị để hưởng lợi cho bản thân và phe nhóm thì các bậc Tu hành lại hiên ngang lên tiếng hô hào bảo vệ đất nước dù trong tay không có một tấc sắt.

Phạm Trần
(10/09)


****************

2- KHÁNG THƯ SỐ 28 CỦA KHỐI 8406

KHỐI 8406
Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006

Web: http://khoi8406vn.blogspot.com/
Email: vanphong8406@gmail.com


2- Kháng thư số 28
Phản đối nhà cầm quyền CSVN xử tù các nhà dân chủ
và tiếp tục đàn áp các tôn giáo




Kính gửi: Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước cùng cộng đồng thế giới dân chủ.

Trong thời gian chuẩn bị đảm nhận chức vụ Chủ tịch luân phiên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc lần 2 và sau khi đảm nhận chức vụ ấy vào tháng 10-2009, với cuộc họp đầu tiên mang chủ đề “Phụ nữ, hòa bình và an ninh”, nhà cầm quyền CSVN đã chứng tỏ mình có một quan niệm về hòa bình và an ninh khác hẳn thế giới, thách thức công luận qua những việc sau đây:

Đối với các tôn giáo

- Ngày 14-09-2009, lợi dụng lúc hai vị Giám mục cai quản Tổng giáo phận Công giáo Huế ra hải ngoại công tác, toàn bộ lãnh đạo chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế, huyện Phú Lộc, thị trấn Lăng Cô đã huy động lực lượng công an, cảnh sát, dân quân, “quần chúng tự phát”, thầy cô trường Tiểu học Lăng Cô, với số lượng khoảng 1500 người và trang bị phương tiện hiện đại, đến bao vây giáo xứ Loan Lý thuộc huyện Phú Lộc, trấn áp gần 800 giáo dân, để cướp trắng ngôi trường của họ rồi vội vã xây tường bao quanh hầu chiếm đoạt vĩnh viễn.

- Ngày 27-09-2009, nhà cầm quyền Cộng sản tỉnh Lâm Đồng, thị xã Bảo Lộc đã huy động lực lượng công an, dân quân, côn đồ và nhiều thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam công cụ, con số lên tới cả ngàn người, đến bao vây tu viện Bát Nhã tọa lạc tại thôn 13, xã Đamb’ri, thị xã Bảo Lộc để đập phá cơ sở, hành hung tăng ni, bắt bớ sư trưởng, trục xuất 400 tu sinh nam nữ, đa phần trẻ tuổi, ra khỏi tu viện này ngay dưới cơn mưa. Dù được sư trụ trì chùa Phước Huệ gần đó cho tạm trú, số tăng sinh này vẫn bị nhà cầm quyền tiếp tục sách nhiễu, ép buộc hoàn tục hay trở về quê quán.

- Ngày 28-09-2009, lúc gần 17 giờ, lợi dụng cơn bão số 9 (Ketsana) đang thổi vào Quảng Nam, Ủy ban Nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, đã huy động hàng trăm công an chận tất cả con đường quốc lộ dẫn vào nhà thờ của một Giáo xứ Công giáo tọa lạc tại An Hải Tây, Sơn Trà, Đà Nẵng, cho hai xe ủi múc xông vào tận khuôn viên Giáo xứ ủi sập trường Khiết Tâm, một trường học hai tầng mà sau năm 1975 Giáo xứ đã cho nhà cầm quyền mượn tạm làm cơ sở giáo dục. Đến trưa hôm sau, 29-09, khi cơn bão đã suy yếu, giáo dân tràn được vào khuôn viên nhà thờ, thì lực lượng phá hoại mới rút lui, nhưng ngôi trường Khiết Tâm hầu như đã trở thành bình địa.

Đối với phong trào Dân chủ

- Dù đảng CSVN đã ra Nghị quyết số 27-NQ/TW (ngày 6-8-2008), về xây dựng đội ngũ trí thức với những lời lẽ “Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, để đội ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng, phát huy vai trò trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội… để tạo động lực thúc đẩy sự sáng tạo, cống hiến của đội ngũ trí thức”. Thế nhưng, ngày 24-07-2009 vừa qua, Thủ tướng CS lại ban hành Quyết định 97 (hiệu lực kể từ 15-09), xác định những lĩnh vực mà tư nhân được tham gia thành lập các tổ chức khoa học công nghệ, đồng thời ghi rõ «Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cần phải gởi ý kiến phản biện đó cho các cơ quan Đảng và Nhà nước có thẩm quyền, chứ không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học công nghệ». Đây là hành vi ngang nhiên bịt miệng giới trí thức nói riêng và tất cả những ai trong xã hội nói chung dám lên tiếng phê bình chủ trương chính sách của đảng CS. Điều này đã khiến Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS, cơ quan nghiên cứu chính sách độc lập đầu tiên ở Việt Nam với phương châm «Nghiên cứu-Phản biện-Phát triển») đã ra Tuyên bố ngày 14-09-2009, lên án văn bản phi pháp, độc đoán này, rồi quyết định «tự giải thể để biểu thị thái độ».

- Trong các ngày 6, 7, 8 và 9-10-2009, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã dựng lên hai phiên tòa tại Hà Nội và một phiên tòa tại Hải Phòng để xử án 9 nhà đấu tranh dân chủ, với nhiều biện pháp vô luật, man rợ như hăm dọa gia đình các bị can trước ngày xử; cấm cản hoặc hạn chế tối đa sự có mặt của thân nhân, báo giới, công chúng trong ngày mở phiên tòa; không cho có luật sư bào chữa, hoặc kết án bị can bất chấp lời bào chữa hợp lý của luật sư; xét xử vội vàng và kết án mau lẹ; ngăn cản báo giới quốc tế phỏng vấn thân nhân các bị can sau phiên tòa; thông tin xuyên tạc trên báo chí về toàn bộ vụ việc… Tất cả nhằm kết án 9 nhà dân chủ yêu nước, thành viên Khối 8406, đã bị bắt từ tháng 9-2008, quy chụp họ vi phạm điều 88 Bộ luật Hình sự (“Tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa”) chỉ vì họ đã lên tiếng qua đài, viết bài đăng mạng và có những hành động công khai như rải truyền đơn, giăng biểu ngữ nhằm tố cáo sai lầm và tội ác của đảng và nhà cầm quyền CSVN, đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho mọi công dân và kêu gọi toàn dân Việt Nam cùng nhau bảo vệ Tổ quốc trước sự xâm lăng của Trung Cộng.

- 9 nhà dân chủ đã bị kết án tổng cộng 59 năm giam cầm (32 năm tù giam và 27 năm quản chế), với chi tiết như sau:

1) Nhà thơ Trần Đức Thạch: 3 năm tù và 3 năm quản chế (xử ngày 06-10-2009).
2) Nhà giáo Vũ Hùng: 3 năm tù và 3 năm quản chế (xử ngày 07-10-2009).
3) Kỹ sư Phạm Văn Trội: 4 năm tù và 4 năm quản chế (xử ngày 08-10-2009).
4) Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa: 6 năm tù và 3 năm quản chế (xử ngày 09-10-2009 cùng với 5 người sau).
5) Sinh Viên Ngô Quỳnh: 3 năm tù và 3 năm quản chế.
6) Chiến sĩ dân chủ Nguyễn Văn Tính: 3 năm 6 tháng tù và 3 năm quản chế.
7) Dân oan Nguyễn Văn Túc: 4 năm tù và 3 năm quản chế.
8) Dân oan Nguyễn Kim Nhàn bị kết án 2 năm tù và 2 năm quản chế.
9)- Cựu đảng viên Nguyễn Mạnh Sơn: 3 năm 6 tháng tù và 3 năm quản chế.

Trước những vụ xâm phạm nhân quyền trắng trợn và trầm trọng nói trên, Khối 8406 tuyên bố:

1- Cực lực phản đối việc đàn áp tôn giáo, nhất là những vụ cướp đất đai và cơ sở thuộc quyền sở hữu chính đáng của các Giáo hội. Những lý cớ dùng để cướp đoạt hay đàn áp như vì phục vụ cộng đồng địa phương (vụ Loan Lý ở Thừa Thiên), vì quy hoạch đô thị (vụ An Hải ở Đà Nẵng) hay vì xung đột nội bộ (vụ Bát Nhã ở Lâm Đồng) là hoàn toàn phi lý, vô luật, không thể chấp nhận được.

2- Cực lực phản đối Quyết định 97 là công cụ mới để nhà cầm quyền CSVN bịt miệng các tiếng nói xây dựng và yêu nước, đặc biệt từ giới trí thức, cũng như phản đối các phiên tòa man rợ xét xử 9 nhà dân chủ nói trên và các bản án bất công gán cho họ. Đây không chỉ là đòn trấn áp những người Việt Nam yêu nước, trò hăm dọa toàn dân đòi hỏi tự do, mà còn là phản ảnh bản chất phản dân chủ và phản dân tộc của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

3- Nhiệt liệt khen ngợi khí phách anh hùng và sự trung thành với lý tưởng đấu tranh của 9 nhà dân chủ. Tất cả đã không đầu hàng, không nhượng bộ, không nhận tội, luôn luôn khẳng định các việc làm của mình là hoàn toàn chính đáng, vì nước vì dân. Đây là niềm hãnh diện của phong trào Dân chủ nói chung và của Khối 8406 nói riêng. Ngoài ra, chúng tôi xin hết lòng khen ngợi các luật sư đã đứng trên quan điểm nhân quyền để biện hộ, bất chấp sự khó dễ sau này của nhà cầm quyền; cũng xin khen ngợi thân nhân, đặc biệt những bà vợ của các vị tù nhân lương tâm, đã tỏ ra can đảm, một lòng một dạ với chồng từ những ngày đầu đấu tranh cho đến tận trong tòa án.

4- Chân thành cảm ơn sự lên tiếng hỗ trợ các nhà dân chủ của Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, của nhiều chính đảng, tổ chức và cơ quan ngôn luận quốc nội lẫn hải ngoại, của nhiều chính khách từ Mỹ châu, sang Âu châu đến Úc châu, của nhiều tổ chức nhân quyền trên thế giới ngay từ trước, trong và sau vụ xử.

5- Thiết tha kêu gọi Đồng bào trong lẫn ngoài nước và Cộng đồng thế giới dân chủ tiếp tục hỗ trợ cuộc tranh đấu tại Việt Nam, bằng cách đòi hỏi CS từ bỏ chính sách đàn áp các tôn giáo và các nhà đối kháng, trả tự do cho các tù nhân lương tâm, bằng cách dùng các áp lực đủ loại để buộc nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng các nhân quyền đã được minh định trong các Tuyên ngôn và Công ước quốc tế, bằng cách giúp đỡ cho gia đình các tù nhân lương tâm vốn cùng gánh chịu sự trả thù của CS.
Ngày 12-10-2009

Ban Đại diện Lâm thời Khối 8406:

1. Kỹ sư Đỗ Nam Hải - 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam.
2. Linh mục Phan Văn Lợi - 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, Việt Nam.
3. Giáo sư Nguyễn Chính Kết - đang vận động dân chủ tại hải ngoại.
Trong sự hiệp thông với Lm Nguyễn Văn Lý, cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù Cộng sản.



************************
3- HỒ SƠ VỤ NHÀ NƯỚC CSVN ĐÀN ÁP TU VIỆN BÁT NHÃ

LTS.- Vụ nhà nước CSVN sử dụng võ lực để tống khứ nhiều tăng thân Làng Mai ra khỏi Tu viện Bát Nhã (Lâm Đồng V.N) đã gây xôn xao trong dư luận cộng đồng Việt Nam trên toàn thế giới và đã được nhiều trang mạng toàn cầu liên tục loan tải.

Tuy nhiên, thể theo lời yêu cầu của một số độc giả không có cơ hội sử dụng internet để có thể biết rõ ngọn ngành nội vụ, Việt Tide xin đăng tải bài tổng hợp tin tức, sự kiện dưới đây với dụng ý cung ứng một số thông tin thiết yếu dành cho các độc giả kể trên.

Bài tổng hợp được viết theo nguyên tắc chỉ tường thuật sự kiện đã xẩy ra hoặc chỉ trích đăng những đoạn viết có thể kiểm chứng nhưng sẽ không đưa ra lời bình luận nào của tòa soạn. Mọi ý kiến phê phán xin để quý độc giả tùy nghi tự chọn.


VIỆT TIDE

I. VÀI DANH XƯNG CẦN BIẾT

1) Làng Mai (Pháp): Làng Mai (thoạt tiên còn có tên là Làng Hồng) là một trung tâm thiền tập của Thiền Sư Nhất Hạnh, được hình thành vào đầu năm 1982 tại miền Tây Nam nước Pháp (gần ga xe lửa Sainte Foy La Grande, ở phía đông tỉnh Bordeaux, cách Paris khoảng 5 tiếng rưỡi giờ tầu chạy). Làng có 4 khu riêng biệt gọi là Xóm Thượng, Xóm Hạ, Xóm Trung và Xóm Mới. Vì những năm đầu, do có nhiều cây hồng ăn đã được trồng nên trung tâm được gọi là Làng Hồng. Nhưng về sau, các tu sinh trồng được 1250 cây mai cho những trái rất đậm đà, nên Làng Hồng được đổi tên thành Làng Mai. Tên chữ của Làng là Đạo Tràng Mai Thôn.

2) Tu Viện Lộc Uyển (Hoa Kỳ): là một trung tâm thiền tập theo truyền thống Làng Mai. Tu viện nằm trong một thung lũng giữa những Sườn đồi phía Tây Bắc thành phố Escondido, thuộc San Diego County, tiểu bang California, với diện tích 400 mẫu Anh. Tu viện đã chính thức được thành lập vào tháng 6 năm 2000 do Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và Tăng đoàn Tu Viện Lộc Uyển hợp sức cùng với sự đóng góp của Phật tử ở khắp nơi. Tu Viện gồm có hai xóm: Xóm Vững Chãi (Solidity Hamlet) dành cho các thầy, là vùng đất nằm phía trên đỉnh đồi, Xóm Trong Sáng (Clarity Hamlet) dành cho các Sư cô, vùng đất dưới rừng sồi xanh mát.

3) Tu viện Bát Nhã (Việt Nam): Xã Dambri thuộc tỉnh Lâm Đồng V.N là một vùng xa vắng hoang sơ nẳm trên đường Sài Gòn đi Đà Lạt. Ở đây trước chỉ có một ngôi chùa Bát Nhã nhỏ bé do Thượng Tọa Đức Nghi chủ trì. Năm 1998 Thượng tọa Đức Nghi qua Làng Mai thăm viếng, vận động tài chánh xây dựng Tu viện Bát Nhã.

Năm 2001 Thượng Tọa lại qua tu viện Lộc Uyển để tìm hiểu thêm về mô thức sinh hoạt và tu học của Làng Mai. Thượng tọa cũng muốn các đệ tử của mình tìm hiểu về pháp môn Làng Mai nên đã gởi các vị đệ tử lớn qua Làng tu học.


II.- QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA THIỀN SƯ NHẤT HẠNH

1)Tiểu sử Thiền Sư Nhất Hạnh:
- Tên thật Thiền Sư Nhất Hạnh là Nguyễn Xuân Bảo, sinh năm 1926, tại làng Minh Hương, [Bảo Vinh] huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.
- Pháp danh Trùng Quang, đã xuất gia tu học từ năm 16 tuổi với Hòa thượng Thanh Hạ Quý thuộc môn phái Tổ đình Từ Hiếu.
- Đầu thập niên 1950, Đại Đức Thích Nhất Hạnh học Trung học tại Huế.
- Năm 1956 Đại Đức vào Sài Gòn học Đại Học Văn Khoa. Đỗ Cử Nhân Văn Khoa khoảng 1959.
- 1960: Góp phần thành lập Viện Đại Học Vạn Hạnh và sáng lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, Nhà Xuất bản Lá Bối.
- Năm 1961, Viện Đại Học Vạn Hạnh cử Đại Đức Thích Nhất Hạnh du học. Đại Đức học tại Đại Học Princeton, tiểu bang New Jersey, Hoa Kỳ, môn Tôn giáo đối chiếu. Thời gian này, Đại Đức Thích Nhất Hạnh thường thuyết giảng về Phật Giáo tại Đại Học Columbia, với tư cách một nhà Sư gốc Á Châu.
- Năm 1964, Thượng Tọa Trí Quang viết thư yêu cầu Đại Đức Nhất Hạnh mau trở về nước để hỗ trợ cho Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong giai đoạn sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ (tiết lộ trong Bạch thư của Hòa Thượng Thích Tâm Châu)
- Năm 1966, Thượng Tọa Trí Quang phái Đại Đức Thích Nhất Hạnh ra ngoại quốc kêu gọi chấm dứt chiến tranh, đòi quyền tự quyết, lập chính phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Đại Đức Nhất Hạnh đến Pháp, với tư cách Trưởng Phái Đoàn Hòa Bình của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại cuộc Hòa Đàm Paris về Việt Nam. Mục đích của phái đoàn Phật giáo do Đại Đức Nhất Hạnh lãnh đạo là nói cho thế giới biết rằng: “dân Việt Nam không muốn đánh nhau nữa, chỉ muốn ngồi xuống thương thuyết với nhau để đi tới một giải pháp hòa bình”.
- Đại Đức Thích Nhất Hạnh định cư tại Pháp từ tháng 5-1966, trong giai đoạn này tích cực tham gia các sinh hoạt phản chiến.
- Từ năm 1968, Sư cô Chân Không đã qua Pháp làm phụ tá cho Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh, đã yểm trợ tất cả các công tác về hòa bình, về xã hội, về hướng dẫn các khóa tu được tổ chức khắp nơi trên thế giới và giúp xây dựng và quản trị Làng Hồng rồi Làng Mai...
- Năm 1982, Thích Nhất Hạnh bắt đầu tìm mua đất để thiết lập Làng Hồng làm nơi tu học và mở các khóa tu cho thiền sinh khắp thế giới vì Am Phương Vân chỉ có thể chứa khoảng 50 người. Làng Hồng có tổng diện tích là 30 mẫu Tây, có hai Xóm Thượng và Hạ cách nhau khoảng 3 cây số. Sau thêm Xóm Trung và Xóm Mới. Thiền sinh ngoại quốc gọi Làng này là Village des Pruniers hoặc Plum Village. Plum cũng có nơi gọi là mai, cho nên làng Hồng mới có tên là Mai Thôn tức Làng Mai ngày nay. Mỗi năm có hàng trăm thiền sinh trên thế giới về đây tu học.
- Từ năm 1966, Thượng tọa Thích Nhất Hạnh bắt đầu hành xử như một thiền Sư, ăn mặc nâu sòng, giản dị, mặc nhiên không còn ưa gọi là Thượng Tọa nữa, cả họ Thích của các bậc tu hành thọ từ 250 giới trở lên cũng ít dùng tới. Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh, trở thành Thiền Sư Nhất Hạnh, nổi tiếng khắp thế giới. Thiền Sư Nhất Hạnh đã cùng với Sư cô Chân Không đi thuyết giảng Thiền học tại hàng chục quốc gia, kể cả Nga và các nước Đông Âu cũ.
(Tài liệu tham khảo: http://www.langmai.org)

2) Mấy lần về nước:

a) Thiền Sư về nước năm 2005 và việc Cúng dường Tu Viện Bát Nhã:

Cuối thập niên 90, Thiền Sư Nhất Hạnh ngỏ ý được về Việt Nam thăm viếng và truyền đạo. Lộ trình chuyến đi hoằng pháp cùng nội dung những bài thuyết pháp từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1999 qua ba thành phố Hà Nội, Huế, Saigon, đã được đệ trình Bộ Văn hóa nhà nước VN. Nhưng không hiểu vì cớ gì Hà Nội lại bãi bỏ chuyến đi vào phút chót. Mãi đến năm 2004, có thể do sự vận động của một nhân sự thuộc nhóm Giao Điểm nên năm 2004 , nhà nước VN mới ngỏ lời mời Thiền Sư về nước và qua năm 2005, Thiền Sư mới thực hiện được chuyến đi này.

Năm 1998, nghe tin Thiền Sư Nhất Hạnh dự định về Việt Nam hợp tác với Nhà cầm quyền cộng sản, Hoà thượng Thích Quảng Độ đã viết thư đề nghị Thiền Sư Nhất Hạnh, bằng những lời nhẹ nhàng, tế nhị, đại ý : “Việt Nam chưa có tự do, dân chủ, nhân quyền, đừng về hợp tác, buôn bán, làm ăn, coi chừng sập tiệm, sẽ mất cả chì lẫn chài !”(Vấn đề Nhà cầm quyền cộng sản đàn áp, trục xuất chư Tăng chùa Bát Nhã-Thích Viên Định- PARIS, ngày 22.9.2009 (PTTPGQT) .

Thiền Sư cùng với đoàn tăng ni Phật tử gồm 190 người tháp tùng đã tới phi trường Nội Bài (Hà Nội) ngày 23-01-2005. Tại đây, cả một đội ngũ đông đảo chờ đón, có rắc hoa thơm trên lối đi, có nhiều phóng viên tụ tập để phỏng vấn.

Trong chuyến đi này, Thiền Sư sẽ đi giảng thuyết nhiều nơi và tiếp xúc với nhiều người. Sư bà Chân Không được cử đến thăm Thanh Minh Thiền Viện ở Sàigòn (nơi Hoà Thượng Quảng Độ bị quản thúc) để xin một cái hẹn cho thiền Sư Nhất Hạnh đến thăm, nhưng Hòa Thượng Quảng Độ từ chối. Tại chùa Già Lam, Thiền Sư được Thượng Tọa Trí Quang tiếp trong 40 phút, nội dung chuyện trò được giữ kín. Thật ra, Hòa thượng Trí Quang lúc bấy giờ (lấy cớ) nhập thất tịnh khẩu không trực tiếp gặp mặt, chỉ có Thượng tọa Tuệ Sĩ trình bày lại lời nhắn (từ chối) của hòa thượng và tiếp chuyện Thiền sư Nhất Hạnh một lúc mà thôi.

Tại Văn phòng 2 Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại Sài Gòn Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã phát biểu: “Chúng tôi hướng về Việt Nam như một quê hương tâm linh của mình… Trong bao nhiêu năm qua, quý vị đã phát huy đạo đức dân tộc, đây là cái cơ bản để giữ cho xã hội Việt Nam lớn mạnh. Chúng tôi về nước với tâm nguyện hiến dâng cho dân tộc...”

Thiền Sư Nhất Hạnh đã lưu lại VN trong 3 tháng để thuyết pháp. Thiền Sư cũng đã hướng dẫn 100 thiền sinh lên Lâm Đồng được thầy Đức Nghi đón tiếp long trọng.

Thầy Đức Nghi tuyên bố rằng Thiền Sư Nhất Hạnh là người yêu nước, có lòng tôn vinh đạo pháp và dân tộc. Thầy rất tâm đắc với những tác phẩm của Thiền Sư Nhất Hạnh. Thầy muốn khôi phục lại trường thanh niên phụng sự xã hội do Thiền Sư thành lập vào năm 1964 trước đây. Thầy cũng thấy Pháp môn Làng Mai là thích hợp với đồng bào Việt Nam. Vì thế, thầy xin cúng dường tu viện Bát Nhã cho Thiền Sư !

Thêm vài chi tiết về việc Cúng Dường tu viện Bát Nhã :

Sự việc cúng dường này có căn cơ từ trước. Từ năm 1998, chương trình từ thiện “Hiểu và Thương” của Làng Mai đã cộng tác với Thượng Toạ Đức Nghi để mở những lớp nhà trẻ tại Bảo Lâm và Bảo Lộc tuy do chính Thượng Tọa đứng tên chủ trì nhưng Làng Mai lo hoàn toàn về chi phí sinh hoạt, xây dựng cơ sở nếu cần, trả lương cho các cô giáo, lo ăn trưa cho trẻ em bán trú và cung cấp học bổng cho các em nghèo hiếu học.

Năm 1998, Thượng Toạ Đức Nghi cũng đã qua Làng Mai thăm viếng, vận động tài chánh để xây dựng chùa Bát Nhã và năm 2001 thì qua tu viện Lộc Uyển vào để tìm hiểu thêm về mô thức sinh hoạt và tu học của Làng Mai. Thượng Toạ cũng muốn các đệ tử của mình tìm hiểu về pháp môn Làng Mai nên đã gởi các vị đệ tử lớn qua Làng Mai tu học như thầy Thích Đồng Đạo, Thích Đồng Châu (2001-2003), Thích Đồng Trung và Thích Đồng Từ (từ 11/2005 cho đến nay).

Năm 2003, 2004, Thượng Tọa cũng đã bảo trợ về mặt pháp lý cho những khóa tu 5 ngày tổ chức tại Bát Nhã do các giáo thọ Làng Mai về thăm quê hương giảng dạy (các thầy Nguyện Hải, Pháp Niệm, các Sư cô Thoại Nghiêm, Hỷ Nghiêm, Giới Nghiêm). Thượng Tọa đã ngỏ ý với các vị giáo thọ lúc ấy là nếu Làng Mai bằng lòng, Thượng Tọa sẽ xin bảo lãnh để các vị có thể ở Việt Nam mỗi năm 6 tháng phụ trách việc giảng dạy cho đồng bào Phật tử địa phương.

Năm 2005, trong chuyến về Việt Nam thăm quê hương và hoằng pháp lần thứ nhất của Thiền Sư Nhất Hạnh, Thượng Toạ đã thỉnh mời Thiền Sư và tăng thân Làng Mai lên thăm Tu viện Bát Nhã và Thượng Toạ đã tuyên bố cúng dường Tu viện Bát Nhã cho Thiền Sư Nhất Hạnh như đã nêu ở trên.

Để độc giả hiểu thêm về mối thiện cảm của Thượng tọa Đức Nghi đối với Thiền Sư Nhất Hạnh và ý định thành lập tu viện Bát Nhã, xin đọc trích đoạn dưới đây từ cuộc phỏng vấn ngày 22.03.2007 tại Tu viện Bát Nhã, Bảo Lộc, Lâm Đồng, được thực hiện bởi thầy Pháp Lưu, Sư cô Châu Nghiêm (thuộc ban biên tập của Deer Park Dharma Cast):

Hỏi: Thượng tọa có thể chia sẻ một chút về quá khứ và quá trình thực tập, trong trường hợp nào mà Thưọng tọa tiếp xúc với Sư Ông và pháp môn của Sư Ông

TT Đức Nghi: Trong khi chúng tôi còn là học tăng trước năm 1975, cũng đọc sách của Sư Ông rất nhiều như Đạo Phật đi vào cuộc đời, Đạo phật hiện đại hóa, Đạo Phật ngày mai, Nẻo về của ý. Lúc đó chúng tôi mới có chừng hai mươi tuổi thôi, và đọc cuốn sách Nẻo về của ý như sách gối đầu giường vậy. Thành thử mới thích đường hướng phụng sự xã hội của Sư ông. Thì sau 75 tức là năm 76 tôi mới lên Bảo lộc, đọc “Nẻo về của ý” thì mới tìm Phương Bối để thăm (Ghi chú của tòa soạn: Phương Bối Am là một cơ sở tu học được Thiền Sư Nhất Hạnh thiết lập từ cuối thập niên 1950 ở Bảo Lộc). Nhưng mà lên Phương Bối thì không còn gì hết, tiêu điều, tan nát, (Ghi chú của tòa soạn : Lúc đó chỉ có gia đình nhà thơ Nguyễn Đức Sơn lấy làm chỗ tá túc sau khi rời Sài Gòn vào tháng 5-1975) thì trong lòng mới ôm ấp thành lập một trung tâm như Phương Bối. Nhưng mà thời gian bao cấp nhà nước chưa đổi mới chính sách ruộng đất thì mình muốn nhưng không thực hiện được. Cho đến năm 90 trong lòng có ý đi tìm. Có đi tim một vài chỗ, thì nhân chuyến đi thăm thác Damb'ri thì mới thấy khu đất này bị bỏ hoang thì muốn tìm chủ nó để mà mua miếng đất này. Thì tìm ra được năm bẩy chủ mới gợi ý mua. Năm 95 mới thực hiện được, là mua khoảng 20 mẫu, rồi sau này mua thêm mười mẫu nữa. Vậy là tổng cộng được 30 hecta. Năm chín năm đến năm chín tám tôi đã đặt những viên đá đầu tiên xây dựng cái chánh điện. thì bà con cái vùng này họ nghèo lắm, họ không thể giúp mình xây đựng được. Năm 98 thì có một thầy ở Mỹ về mới tỏ ý qua đó vận động. Rồi 98 qua Mỹ được mấy tháng, năm 99 được mấy tháng, rồi năm 2000 được mấy tháng. sau năm lần đi Mỹ mới vận động được ít để xây dựng cái chánh điện dọn dẹp đường xá, rồi trong năm năm đi rồi thì năm 2003 không đi nữa. Cho đến cuối năm 2004 đầu năm 2005 thì Sư ông về Việt Nam. Sư ông về Việt Nam thì mới thỉnh Sư ông lên đây thăm, và mới nói lên cái nguyện vọng của mình là muốn Bát Nhã trở thành một trung tâm như Phương Bối. Để thực hiện cái tu viện cho mọi người tu. Thì từ năm 2005 đến giờ mọi vấn đề xây dựng cơ sở, thì Làng chịu trách nhiệm. Chứ từ năm 2005 về trước thì Làng không có trách nhiệm, Ngoài cái Bát Nhã này thì còn chín nơi khác nữa, ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào kinh tế mới. Có Bát Nhã, Pháp Hoa, Niết Bàn, Hoa Nghiêm, Quan Âm, Phổ Hiền, An Lạc, Văn Thù. Rồi giờ có Bát Nhã Hai, Bát Nhã Ba nữa. Để đáp ứng cái nhu cầu của bà con trong vùng này. Và ở đây mình đã thực hiện chương trình giúp đỡ cho bà con nghèo. Mình giữ con cho bà con, Làng đã hỗ trợ chương trình đó. (ngưng trích).

Việc điều hành Tu viện Bát Nhã sau đó cũng được Thượng tọa Đức Nghi làm theo y mẫu của Làng Mai. Tháng 5-2005, Sư cô Chân Thoại Nghiêm đã dẫn 85 sa-di ni và tập sự xuất gia nữ từ Huế vào để thiết lập sinh hoạt ni chúng Làng Mai tại Bát Nhã, lấy tên là Xóm Bếp Lửa Hồng. Tháng 10/2005, thầy Thích Chân Nguyện Hải và Thích Chân Pháp Khâm dẫn một số sa-di và tập sự nam từ Huế vào để thiết lập sinh hoạt tăng chúng Làng Mai tại Bát Nhã, lấy tên là Xóm Rừng Phương Bối. Các sinh hoạt đều theo mô thức Làng Mai. Đây là lý do tại sao khi có cuộc đàn áp tại Bát Nhã xẩy ra sau này, số tăng chúng hiện diện tại đây đã đông tới 400 người.



Thượng Toạ Đức Nghi cũng luôn khẳng định là Tu viện Bát Nhã sẽ hoàn toàn tu học và sinh hoạt theo mô thức Làng Mai và sắp xếp cho các đệ tử không thích tu học theo pháp môn này cư trú ở nơi khác. Những vị còn lại đều tuân theo thanh quy của tu viện và ai không theo thanh quy của Tu viện sẽ bị mời đi, bất kể người đó là đệ tử của Thượng Toạ hay đệ tử của Sư Ông Làng Mai.

Việc xây dựng Tu viện Bát Nhã sau đó đã được thực hiện theo tuần tự dưới đây, tiền bạc do các Phật tử trong và ngoài nước đóng góp:

- Tháng 3 năm 2005, khởi công xây dựng cư xá Rừng Phương Bối để làm tăng xá cho các thầy và Sư chú.
- Tháng 4 năm 2005, tiếp tục xây dựng và hoàn thành cư xá xóm Bếp Lửa Hồng để làm ni xá cho các Sư cô.
- Tháng 5 năm 2005, xây dựng nhà bếp, nhà ăn và thiền đường Tâm Bất Động, xóm Bếp Lửa Hồng
- Tháng… năm 2006, khởi công xây dựng cư xá Phượng Vĩ để làm thêm ni xá cho các Sư cô.
- Tháng.. năm 2006 xây mới nhà bếp và trai đường xóm Rừng Phương Bối.
- Tháng 4 năm 2006 khởi công xây dựng thiền đường Cánh Đại Bàng, tháp nước, công trường Bông hồng cài áo , và hai nhà dãy nhà vệ sinh công cộng.
- Tháng 7 năm 2006, khởi công xây dựng ba dãy nhà tại khu đất của chúng cư sĩ dòng tu Tiếp Hiện (được gọi là cư xá Tiếp Hiện)
- Tháng 1 năm 2007, xây thêm phần sau cốc Lưng Đồi
- Tháng 10 năm 2007, xây lại hoàn toàn cư xá Tâm Ban Đầu
- Tháng 1 năm 2008, xây thêm phần phía sau của cốc Trà Thơm (gần đường xuống suối), xóm Bếp Lửa Hồng.
Chi phí mua đất và xây dựng từ 20-4-2005 đến 11-3-2008 là 14 tỉ, 162 triệu đồng, tiền VN.

b) Thiền Sư Về Nước năm 2007:

Trong chuyến đi này, Thiền Sư dự tính tổ chức 3 buổi Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan, tuy nhiên nhà cầm quyền Hà Nội phản đối tên gọi “giải oan” với lập luận rằng tuy sẵn sàng tha thứ cho những chiến sĩ trận vong của miền Nam, nhưng họ vẫn xem những người đó là những người phản bội dân tộc và trở thành tay sai của chính quyền mà họ gọi là “ngụy quyền” do chính phủ Mỹ khống chế. Vì có sự phản đối như thế, Tăng Đoàn Làng Mai đã đổi tên gọi Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan thành Đại Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng.
- Đại Trai Đàn Chẩn Tế thứ nhất sẽ được cử hành tại chùa Vĩnh Nghiêm, TP.HCM, theo nghi lễ cổ truyền miền Nam từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 3 năm 2007.

- Đại Trai Đàn Chẩn Tế thứ hai sẽ được cử hành tại quốc tự Diệu Đế, Huế, theo nghi lễ truyền thống Huế từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 4.

- Và Đại Trai Đàn Chẩn Tế thứ ba sẽ được tổ chức tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Sóc Sơn, Hà Nội, từ ngày 20 đến ngày 22 tháng 4 năm 2007.

Đại Trai đàn Chẩn Tế tại Chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn:

Suốt hai ngày 16 và 17-3-2007, đoạn đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa ngang qua chùa Vĩnh Nghiêm kẹt xe dữ dội mặc cho lực lượng công an cảnh sát vất vả dàn hàng giữa tim đường ra sức điều phối. Lượng người đổ về chùa Vĩnh Nghiêm tham dự đại trai đàn chẩn tế rất đông.

Để tổ chức được buổi lễ này, về mặt chính quyền, thiền Sư Nhất Hạnh đã tranh thủ được sự chấp thuận của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Về mặt nội bộ giáo hội thầy cũng được sự hợp tác, ủng hộ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thành hội Phật giáo cùng đông đảo tăng ni Phật tử. Thiền Sư Nhất Hạnh ngoài việc tham gia hộ đàn, còn phụ trách pháp thoại ba ngày. Mỗi ngày một đề tài:
"- Người thương tôi mất, biết tìm đâu. - Chết sẽ đi về đâu. - Làm thế nào cho thân nhân đã mất được nhẹ nhàng, an lạc."


Tên gọi đầy đủ của trai đàn là Thủy lục giải oan bình đẳng cứu bạt trai đàn. Thủy lục nhằm chỉ phạm vi rộng lớn khắp trên biển (thủy) và mặt đất (lục). Mục đích lập trai đàn nhằm để cứu vớt, độ trì (cứu bạt), các oan hồn, không phân chia đối tượng (bình đẳng). Những thức cúng dường đều chay tịnh (trai đàn). Thời gian từ khi lập đàn tới khi kết thúc là ba ngày. Mỗi ngày đều có tụng kinh cầu siêu và thuyết pháp.

Từ ngoài đường, bước vào khỏi tam quan chùa Vĩnh Nghiêm ba bước là gặp Hồ Tắm Vong thả đầy hoa sen hồng nối liền với chiếc cầu phủ vải trắng toát – nơi các oan hồn phải đi qua để được cứu độ siêu thoát. Dọc hai bên cầu cắm những cành phướn, treo vải trắng bay phất phới. Trên chót đầu cầu là tòa phương đình, trong có hình nhân lộng lẫy trang nghiêm cao to hơn người thực, đứng trong tư thế đường bệ. Phật tử dự lễ ngồi trong hai rạp dựng song song, xuôi theo đàn cầu siêu. Tất cả đều chắp tay niệm Phật.

Lễ Truyền Đăng tại Thiền Viện Bát Nhã Lâm Đồng:

Ngày 13/3/07, ngày cuối của chương trình sinh hoạt tại tu viện Bát Nhã, Lâm Đồng có lễ Truyền Đăng do Thiền Sư Nhất Hạnh chủ trì với sự tham gia của tăng đoàn Làng Mai, tăng chúng thường trụ Bát Nhã, cùng Phật tử trong và ngoài nước tham dự. Tại đại điện, Thiền Sư khởi xướng niệm hương bằng nghi thức truyền thống, tiếp theo, tăng đoàn Mai thôn xướng lễ Tam Bảo bằng âm ngữ Pali, rồi xướng tụng ngợi ca chư Phật bằng Anh ngữ. Sau đó, Thiền Sư tuyên bố hôm nay là lễ Truyền Đăng.

Truyền Đăng là một nghi thức trong Phật Giáo, được tryền thừa qua nhiều đời, là một buổi lễ ấn chứng, xác quyết khả năng tu tập và năng lực nội tại của đệ tử, sau khi vị thầy thấy được tâm đắc của đệ tử trình bày qua thi, kệ. Người được truyền đăng được xem là vị Giáo thọ, không những trên mặt truyền bá giáo lý, mà thân giáo, khẩu giáo và hành giáo đều đáng là bậc trưởng tử Như Lai. Một ngọn đèn dầu đặt trước mặt thiền Sư, bên cạnh là quả chuông gia trì. Đăng tử trình giải kệ tâm khai; Sư ông tiếp nhận, đọc và giải nghĩa bằng Anh ngữ lẫn Việt ngữ. Sư ông tiếp nhận ngọn đèn, châm lửa từ ngọn lửa đèn lớn mồi qua chiếc đèn nhỏ của Đăng tử, tượng trưng cho sự truyền thừa. Đăng tử đứng lên với hai tay tiếp nhận ngọn đèn từ Thiền Sư. Rồi tất cả mọi người hiện diện đều nghiêm trang đứng lên chấp tay vái chào vị tân Giáo thọ vừa được ấn ký. Tưởng cũng nên biết, Thượng tọa Đức Nghi đã được Thiến Sư Nhất Hạnh “truyền Đăng” tại Mai Thôn vào năm 2006.

Những sinh hoạt khác trong chuyến đi:

- Chiều 5-5-2007, tại Phủ Chủ tịch ở Hànội, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã tiếp Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và đại diện thiền sinh, cư sĩ trong đoàn tăng thân Làng Mai (Pháp) tới chào xã giao, nhân dịp đoàn về thăm Việt Nam theo lời mời của Ban Phật giáo Quốc tế thuộc Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Ông Triết đánh giá chuyến về thăm Việt Nam của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và đoàn tăng thân Làng Mai là đã đóng góp tích cực vào hoạt động tôn giáo ở Việt Nam; ông cũng vui mừng trước tình cảm của Thiền Sư đối với quê hương, đồng bào Phật tử trong nước. Ông lại mong mỏi Thiền Sư và các thành viên trong đoàn tiếp tục có những chuyến về thăm Việt Nam cùng chia sẻ, đóng góp tiếng nói, hành động để xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.

- Dịp này, Thiền Sư Nhất Hạnh cũng cùng với Sư Cô Chân Không và một số tăng ni tới thăm tướng Võ Nguyên Giáp và trước đó, thiền Sư cũng đã tới Văn Phòng chính phủ thăm Thủ Tướng Phan Văn Khải. (Phan Văn Khải hay Nguyễn Tấn Dũng ???)

Rồi tới ngày 7-7-2007, Ban Tôn Giáo Chính Phủ đã cho phép các tu sinh tu viện Bát Nhã được tu học theo pháp môn Làng Mai. Tại đây có 250 tăng ni và 100 tập sinh xuất gia tu học và sinh hoạt thường xuyên gồm có các lớp tu học hàng tháng, hàng năm.

c) Thiền Sư về nước năm 2008:

Theo tin của TTXVN thì Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và Đoàn tăng thân Phật giáo quốc tế Làng Mai về VN từ ngày 22-4-2008 đến 21-6-2008 để tham dự Đại lễ Phật đản LHQ 2008 theo lời mời của của Ban Phật giáo Quốc tế Giáo hội Phật giáo VN (GHPGVN) và UB Tổ chức Quốc tế Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008 (IOC).

Cũng trong dịp tham dự Đại lễ Phật đản lần này, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và Đoàn tăng thân Làng Mai sẽ đi tham quan và tổ chức các khóa tu trước và sau Đại lễ Phật Đản. Tăng thân Làng Mai, cùng IOC và GHPGVN sẽ tổ chức hai khoá tu cho các tăng ni, Phật tử Việt Nam; trong đó, có một khoá tu dài 6 ngày cho khoảng 500 người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam. Khóa tu đặc biệt này sẽ được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 5-5 đến 11-5-2008.

III.- VÌ ĐÂU NÊN NỖI ???

Ngày 18-6-2008, Thiền Sư lại lên tu viện Bát Nhã nói chuyện với các đệ tử với đề tài: “Thầy căn dặn”. Nhưng sau đó Thượng Tọa Đức Nghi đem cắt đầu, cắt đuôi bài nói chuyện này để chỉ còn lại trong 5 phút và cho là Thiền Sư đã coi thường nhà cầm quyền và giáo hội Phật Giáo địa phương, vi phạm quy chế Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.

Ngày 1 tháng 9 năm 2008, Thượng tọa Đức Nghi đã gửi Bản Kiến Nghị tới 3 nơi : Hội đồng Trị sự Giáo Hội Phật Giáo VN, Ban Trị sự Tỉnh Hội Phật Giáo Lâm Đồng và ban Đại diện Phật Giáo Thị xã Bào Lộc mà nội dung có những đoạn như sau :

“Cách đây trên 3 năm, con đã nhiệt tình bảo lãnh để Làng Mai tu tập tại Tu viện Bát Nhã. Được Giáo hội Trung ương cho phép, văn thư số 212 ngày 22-5-2006, Ban Tôn Giáo Chính phủ cho phép, văn thư số 525 ngày 7-7-2006.

Ban đầu con cứ tưởng Làng Mai tôn trọng Giáo Hội Phật Giáo VN và Nghị định 22 của Ban Tôn giáo Chính Phủ, cứ tưởng tôn trọng lời đề nghị của con tại Làng Mai 2006, lời đề nghị của con tại chùa Từ Hiếu năm 2007, lời đề nghị của con tại Tu viện Bát Nhã năm 2008.

Cả 3 lần trực tiếp gặp Sư Ông Làng Mai để nói lên thực trạng của Tu viện Bát Nhã. Giáo Hội Làng Mai chưa được phép sinh hoạt tại Việt Nam, con chỉ đứng đơn xin tu theo pháp môn Làng Mai tại Tu viện Bát Nhã. Nên mọi việc xẩy ra con chịu trách nhiệm trước Giáo Hội và Nhà Nước. Con muốn tương lai Tu viện Bát Nhã sẽ lên tới 1.000 tu sinh, nhưng những lời đề nghị của con lên Sư Ông và quý vị giáo thọ không ai lắng nghe cả. Đã 3 năm qua, con đã hơn 10 lần bị kiểm điểm vì vi phạm Hiến chương Giáo Hội và Nghị định 22 của Ban Tôn Giáo Chính Phủ.

Kề từ hôm nay, ngày 01 tháng 09 năm 2009, con xin rút lại tất cả những văn thư xin phép cho Làng Mai tu tập. Con không bảo lãnh, không chịu trách nhiệm mọi việc sẽ xẩy ra của Làng Mai tại Tu viện bát Nhã trong thời gian tới.”
(ngưng trích)

Thế là công lao của Làng Mai trong ngần ấy năm bị đổ xuống sông xuống biển và đặt số tăng chúng Làng Mai đang cư ngụ tại tu viện Bát Nhã trước tình trạng cư trú bất hợp lệ !

Sau khi nhận được “Bản Kiến Nghị” với nội dung kể trên, ngày 9-9-2009 Thiền Sư Nhất Hạnh đã viết một thư tay cho Thượng tọa Đức Nghi, trong có những đoạn như sau :
“Tôi có đọc thư Thầy viết gởi đề ngày 1.9.08 (Kiến nghị), và thấy thương Thầy quá. Tội nghiệp cho thầy. Thầy đã bị áp lực của những thế lực bảo thủ và tham nhũng lâu ngày, và Thầy cũng đã nói với tôi như thế, và bây giờ Thầy muốn nửa đường bỏ cuộc. Trong Giáo Hội và trong Chính Quyền cũng có nhiều thành phần cương trực và trong sạch, các vị này cũng đã từng bị lao đao và khó khăn thế nhưng họ đã không bỏ cuộc. Tôi nghĩ Thầy nên đứng dậy và can đảm tiếp tục con đường đã đi.

Hiện giờ có khoảng 400 người tu trẻ tuổi đang tu học nghiêm chỉnh ở Bát Nhã, đó là một trong những chúng xuất gia thường trú có tầm vóc lớn ở quê hương. Tôi tin chắc là cả chính quyền và cả Giáo hội đều không muốn cho một chúng tu học như thế bị giải tán và tan rã. Phật tử trong nước và ngoài nước đã từng yểm trợ và nuôi cho tu viện lớn lên cũng sẽ không muốn cho một chúng tu học như thế bị giải tán và tan rã. Điều này chắc Thầy cũng đã thấy rõ, bởi vì nếu có sự giải tán và tan rã xảy ra thì sẽ có tai tiếng lớn cho đất nước và cho Phật giáo Việt Nam.”
(ngưng trích)

Thế rồi, ngày 29-10-2008, ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ đã tố cáo: Ba lần về VN, tăng thân làng Mai từ Pháp đã tấn phong giáo phẩm mà không thông qua GHPGVN, đề cập sai lệch vấn đề chính trị trong nước, đưa lên mạng một số tin tức sai sự thật tại VN, vi phạm luật pháp VN.

Ngày 13-11-2008, công an Lâm Đồng cưỡng bách trục xuất 400 đệ tử xuất gia tu học theo môn pháp Làng Mai ra khỏi tu viện Bát Nhã bao gồm cả tu sĩ ngoại kiều và 40 ni cô tại Huế.

IV. CUỘC ĐÀN ÁP ĐÃ XẨY RA

Ngày 27, 28 và 29 tháng 6 năm 2009, độ 200 thanh niên thuộc xã hội đen kéo đến thiền viện Bát Nhã xã Dambri, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, lấy lý do các tu sĩ là người nước ngoài, nên đập phá nhà bếp và vất nồi, niêu, soong, chảo, gối ngồi thiền, mền chiếu, sách kinh ra bên ngoài. Điện, nước và điện thoại đều bị cúp.

Đến trưa ngày Thứ Hai, 29 tháng Sáu, thì tu viện Bát Nhã lâm vào cảnh không điện, không nước, không điện thoại, đặc biệt nước uống bắt đầu cạn dần trong khi các tiếp tế của Phật Tử địa phương thì bị ngăn cản. Họ lùa các Sư cô ở Mây Ðầu Núi đi về phía vườn rau, một số các Sư cô bị té ở bậc tam cấp, và bị họ lấy dù đập rất là dã man. Các thầy bị đánh rất nặng, và đã bị xúc lên xe. Một Sư cô cho biết, “Hiện có khoảng 50 thầy tì kheo và Sư chú đang chịu đói và lạnh ở ngoài đường trước cổng Mây Ðầu Núi. Một em tập sự xuất gia bị đánh chảy máu miệng. Một Sư chú bị bóp cổ quăng lên xe. Còn khoảng 30 thầy đang bị kẹt trong tu viện. Các thầy bị đẩy lên xe, và bị đánh quá chừng, và họ đã chở ra tới cổng ngoài của xóm Mây Ðầu Núi. Các thầy đang nằm ở ngoài đường nên họ chưa chở đi được.”

Mặc dù bị 200 côn đồ hành hung và xua đuổi, các tăng chúng vẫn cố thủ tại tu viện Bát Nhã không chịu rời đi.

Qua ngày 27 Tháng 9-2009, lực lượng cán bộ, công an CSVN đông hàng trăm người đã đến tu viện Bát Nhã quăng ném quần áo, đồ đạc của gần 400 tăng sinh ra đường dù trời mưa. Nhiều người đã bị đánh đập để cưỡng bách trục xuất họ ra khỏi nơi tu tập.

Trước sự tàn bạo của công an và côn đồ địa phương, các tăng chúng phải rút về Chùa Phước Huệ cách Tu viện Bát Nhã 17 km và cho đến nay, họ vẫn tá túc tại đây,

Im lặng Sấm Sét !

Trong thời gian Tu viện Bát Nhã bị đàn áp dã man thì Thiền Sư Nhất Hạnh đang ở Làng Mai bên Pháp. Thiền Sư đã an ủi đệ tử của mình bằng lá thư viết ngày 20-7-2009, có vài đoạn đáng chú ý như sau:

Thân gửi các con của thầy ở Bát Nhã, Từ Hiếu, và khắp nơi,

Thầy đang ngồi ở thất Ngồi Yên, xóm Thượng, Làng Mai, viết cho các con. …

…Cái ngày mà thầy nghe tin họ xông vào cư xá Rừng Phương Bối, quăng liệng đồ đạc và xô ngã những người họ gặp và đi lên lầu ba nơi các con đang ngồi thiền và trì niệm danh hiệu Quan Thế Âm trong tư thế bất động, không hề tìm cách chống trả và phản ứng, là thầy biết các con đã làm được như thầy trông đợi, và không có lý do gì nữa để cho thầy phải lo lắng cho các con.


Thầy biết các con của thầy không lo lắng, và các con biết là thầy cũng không lo lắng. Các con chỉ cần ngồi thật yên bên đó, cũng như thầy và các anh chị em chỉ cần ngồi thật yên bên này, thì thế nào sấm cũng lặng, mây cũng tan. Năng lượng im lặng của chúng ta là năng lượng của hiểu và thương, đây là thứ im lặng hùng tráng, đây cũng là thứ im lặng sấm sét.


Nhất Hạnh

Rồi qua ngày 30-9, Thiền Sư lại cũng đã lên tiếng trong hai lá thư liên tiếp, một gửi cho Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết và một gửi cho nhân sĩ, trí thức trong và ngoài nước. Điều đáng chú ý và không hiểu nguyên do hay dụng ý gì của người viết mà cả hai lá thư đều không ký tên Thiền Sư Nhất Hạnh nhưng lại dùng tên Nguyễn Lang là bút hiệu của Thiền Sư khi viết cuốn “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận,” xuất bản trong nước hồi đầu thập niên 60s, trước khi ông ra đi, sống lưu vong tại nước ngoài.

Trong bức thư từ New York đề ngày 30 Tháng Chín, gởi ông Nguyễn Minh Triết, tác giả Nguyễn Lang, tức Thiền Sư Nhất Hạnh, viết rằng:

“...Cửa Phật là cửa rộng, những lúc hiểm nguy ai cũng có quyền tới nương nhờ. Ngày xưa trong cách mạng chống Pháp, hàng ngàn chiến sĩ cách mạng đã từng tới ẩn náu tại chùa và các thầy các Sư cô luôn luôn tìm mọi cách để đùm bọc và che chở. Bây giờ đây cảnh sát và công an của chủ tịch đã đánh bật 400 thầy và Sư cô ra khỏi chùa (tu viện Bát Nhã ở Bảo Lộc) và các vị ấy đã tìm tới tỵ nạn nơi một chùa khác (chùa Phước Huệ ở Bảo Lộc). Hiện thời cảnh sát và công an của chủ tịch lại đang vây quanh chùa Phước Huệ buộc các vị xuất gia ấy phải ra khỏi chùa trong đêm nay. Các vị cảnh sát và công an này chắc hẳn không phải là con cháu của cách mạng. Tôi xin chủ tịch kịp thời ngăn chận hành động trái luân thường đạo lý này.”

Trong bức thư gửi nhân sĩ, trí thức trong và ngoài nước có đoạn, “Qua 14 tháng thử thách trước bạo động và đe dọa, họ đã can trường đứng vững, không nản chí, không sợ hãi, không oán thù, không bạo động, và vẫn giữ được niềm tin nơi con đường họ đi và vào những giá trị tinh thần của đất nước. Nhìn vào những người như họ, chúng ta thấy vững lên niềm tin của chúng ta nơi các thế hệ tương lai của đất nước.”

Và, vì những lẽ ấy, “Lên tiếng bảo vệ cho họ không phải là quý liệt vị yểm trợ cho một tôn giáo là Phật Giáo mà quý vị che chở cho những mầm non xanh tốt của tương lai không để bị giẫm nát bởi bạo hành.”

***

Tuy chẳng tin rằng “Các vị cảnh sát và công an này chắc hẳn không phải là con cháu của cách mạng” như Thiền Sư đã viết cho ông Nguyễn Minh Triết, nhưng để kết thúc cho bài tổng kết này, người viết chỉ cầu mong cho “thế lực bạo quyền nào đó” ở trong nước sớm chấm dứt cảnh đàn áp những Phật Tử chỉ lo việc tu hành, và nhất là sự im lặng là sấm sét của Thiền Sư Nhất Hạnh sớm đem lại hiệu quả sấm sét.
HOÀNG ANH VŨ
(Tổng hợp)


*********************